DI SẢN THẾ GIỚI CÔN SƠN

         Khu di tích, danh thắng Côn Sơn xưa thuộc địa phận xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng. Đây là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của nước ta được ghi trong sử sách từ nhiều thế kỷ trước. Vì vậy, đã từ lâu Côn Sơn trở thành một vùng văn hoá lịch sử, nơi di dưỡng tinh thần của bao bậc hiền triết. Các tao nhân mặc khách và muôn vàn kẻ sĩ của mọi triều đại tìm về Côn Sơn như tìm về căn nhà vũ trụ để thực hiện đời sống tâm linh trong sự hoà hợp tột cùng của âm dương, sơn thuỷ và trời đất. Chẳng những Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi… đã tìm về đây để sống đạo, hoằng dương phật pháp, mà còn có cả những vị vua cuối đời Trần như Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và nhiều trí thức Trần, Lê khác dù đang phải gánh vác triều chính, thỉnh thoảng cũng “lén” về Côn Sơn tu tâm dưỡng tính, tận hưởng không khí “bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên” (trộm cái nhàn nửa ngày ta cũng là tiên) theo cách nói của Nguyễn Phi Khanh. Cảnh sắc thiên nhiên và con người tạo dựng đã làm cho Côn Sơn thành một “Đại thắng tích”. Ở đây, có núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc, với rừng thông bát ngát, suối chảy rì rầm, nước hồ trong mát, có Bàn Cờ Tiên, Thạch Bàn, Giếng Ngọc, Ngũ Nhạc linh từ…

          Chùa Côn Sơn tên chữ là Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự (nghĩa là ngôi chùa được trời ban phúc lành), tục gọi là chùa Hun, khởi dựng vào thế kỷ X, mở rộng, hoàn chỉnh ở thế kỷ XIV. Cuối thế kỷ XIII, Thiền phái Trúc Lâm, một thiền phái Phật giáo mang ý thức dân tộc, tự chủ đã dựng liêu Kỳ Lân cho các tăng ni tu hành. Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, ba vị tổ xác lập thiền phái này đã từng tu hành và thuyết pháp ở đây. Vì thế, chùa Côn Sơn trở thành một trong ba trung tâm nổi tiếng của dòng Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam.

“Côn Sơn, Yên Tử, Vĩnh Nghiêm

Nếu ai chưa đến thiền tâm chưa thành”

          Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả (1254 – 1334) đã từng trụ trì chùa Côn Sơn. Tại đây, Ngài đã tôn tạo mở rộng chùa Côn Sơn, soạn nhiều kinh sách, đào tạo hàng ngàn tăng ni, để lại nhiều trước tác kinh điển; soạn nhiều khoa cúng Phật nổi tiếng như: “Thuỷ Lục Chư Khoa”, “Đại khoa cúng Phật, dâng lục cúng Dàng – Mông Sơn thí thực chẩn tế cô hồn, kỳ nguyện quốc thái dân an”. Đây là di sản có giá trị đặc biệt của đất nước.

          Ngày 23 tháng Giêng năm Khai Hựu thứ 6 (1334), Quốc sư Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn, Thái Thượng Hoàng Trần Minh Tông đã ban tước hiệu và xuất ngân quỹ để xây Đăng Minh Bảo Tháp cho sư tổ ở sau chùa. Ngày giỗ tổ Huyền Quang đã trở thành ngày hội truyền thống mùa xuân Côn Sơn.

          Thời Trần, bình đồ kiến trúc của chùa là “nội công ngoại quốc” gồm nhiều hạng mục công trình từ Hồ Bán Nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn, núi Ngũ Nhạc như: Tam quan, Phật điện, Cửu Phẩm Liên Hoa, tả hữu hành lang, am Bạch Vân…

          Thời Lê, chùa mở rộng quy mô 83 gian, có Cửu Phẩm Liên Hoa với 385 pho tượng, các công trình mái lợp ngói thanh lưu ly, hoàng lưu ly… trông xa long lanh như ngọc biếc.

          Trải qua thăng trầm của lịch sử, ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn dấu ấn kiến trúc thế kỷ XIV, XVII, XVIII, XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: Hồ Bán Nguyệt, Tam quan, lầu chuông, gác trống, tiền hành lang, hậu hành lang, am phật, vườn tháp, giếng Ngọc, Am Bạch Vân và 5 miếu thờ “Tứ Độc Sơn Xuyên” (trời đất sông núi) trên Ngũ Nhạc linh từ. Hệ thống tượng thờ khá phong phú biểu hiện thế giới Phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh.

          Hiện nay,  chùa Côn Sơn còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú: Hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII, đặc biệt là văn bia Thanh Hư Động tạo thời Long Khánh (1373 – 1377) là bút tích của vua Trần Nghệ Tông; tấm bia “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” (1607), Bác Hồ đọc khi Người về thăm Côn Sơn (15/2/1965); ngói mũi hài và chân đá tảng chạm cánh sen là di tích thời Trần… Ngoài ra, còn các bộ sách kinh phật, bộ cúng đàn Mông Sơn thí thực, bùa chú của tổ Huyền Quang, hệ thống phả hệ của dòng họ Nguyễn Trãi.

          Cuối thế kỷ XIV, Quan Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán về dựng nhà ở núi Côn Sơn làm nơi hưu nhàn. Ông đưa người cháu ngoại ưu tú là Nguyễn Trãi về ở cùng. Tương truyền, rừng thông Côn Sơn do Trần Nguyên Đán trồng, bãi giễ thanh hao do phu nhân Quan Đại Tư Đồ trồng, nay là những thắng cảnh đặc sắc của khu di tích.

          Hàng năm, lễ hội mùa xuân Côn Sơn có nhiều nghi lễ truyền thống như: Lễ khai hội, lễ cúng đàn Mông Sơn, lễ tế trời đất trên Ngũ Nhạc linh từ, lễ rước nước, cùng nhiều trò chơi dân gian như: Đu tiên, chọi gà, cờ người, đấu vật…

Hơn nghìn năm tồn tại và phát triển, nhân dân trong và ngoài nước vẫn về Côn Sơn trẩy hội, chiêm bái tưởng niệm các bậc danh nhân, cũng là dịp tìm về cõi thanh hư, để gần hơn với phật tâm, nghe tiếng chuông mà tỉnh cơn mê nhập vào miền thánh thiện.

   Với những giá trị nổi bật toàn cầu, ngày 12 tháng 7 năm 2025, chùa Côn Sơn được UNESCO công nhận, trở thành di tích thành phần của Di sản Thế giới “Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc”./.

Để lại một bình luận