CHÙA CÔN SƠN

Chùa Côn Sơn nằm dưới chân núi Kỳ Lân, thuộc phường Cộng Hòa, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chùa có tên chữ là Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, tục gọi là chùa Hun. Chùa có từ thế kỷ X, đến thế kỷ XIII, XIV (thời Trần), Thiền phái Trúc Lâm được thành lập, các vị tổ như Pháp Loa, Huyền Quang đã về Côn Trụ trì, thuyết pháp và cho mở rộng quy mô kiến trúc, dựng liêu Kỳ Lân cho các tăng ni tu hành.

Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, ba vị tổ xác lập thiền phái này đã từng tu hành và thuyết pháp ở Côn Sơn. Vì thế, Chùa Côn Sơn trở thành một trong ba trung tâm nổi tiếng của dòng Phật giáo Trúc Lâm thời Trần:

" Côn Sơn, Yên Tử, Quỳnh Lâm

Nếu ai chưa đến thiền tâm chưa đành".

              Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm đã về trụ trì chùa Côn Sơn.

        Tại đây, ông đã tôn tạo mở rộng chùa Côn Sơn, với nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như: Đài cửu phẩm liên hoa, am Bạch Vân… xây dựng tăng viện đào tạo tăng ni, giảng kinh thuyết pháp…đưa Côn Sơn thành đại già lam, đại tùng lâm.

          Ngày 23 tháng giêng năm Khai Hựu thứ 6 (1334), sư tổ Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn, đệ tử dựng tháp để xá lị ở sau chùa. Tháp có tên gọi là Đăng Minh bảo tháp. Vì thế, Côn Sơn được gọi là chốn Phật tổ và hàng năm mở hội dâng hương vào trung tuần tháng Giêng.

          Theo văn bia tại chùa và các tư liệu lịch sử ghi chép thì vào thời Trần chùa Côn Sơn có kiến trúc nội công ngoại quốc. Quy mô di tích khá lớn với đầy đủ các công trình kiến trúc đồ sộ và hoành tráng từ Hồ Bán Nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn và núi Ngũ Nhạc như: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, 2 dãy tiền hành lang, hậu hành lang, Cửu phẩm liên hoa, các toà tháp và Am Bạch Vân…

          Thế kỷ XV, dưới ách chiếm đóng của giặc Minh, nhiều hạng mục kiến trúc, bi ký, tượng pháp chùa Côn Sơn đã bị tàn phá. Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà Lê đã cho xây dựng lại chùa Côn Sơn và cử Nguyễn Trãi chức "Đề cử Côn Sơn tư phúc tự” trực tiếp trông coi và quản lý, chùa Côn Sơn được phục hưng trở lại.

           Dưới thời Lê (thế kỷ XVI, XVII, XVIII), Nhà nước phong kiến đặc biệt quan tâm hưng công xây dựng chùa Côn Sơn, cử các vị Quốc sư về trụ trì. Trong thời gian này dưới sự trụ trì của sư Mai Trí Bản, Đỗ Công Triều, Hải Ấn, Bùi Trù... chùa Côn Sơn đã được trùng tu, xây dựng lớn với nhiều hạng mục kiến trúc, trong đó có phục dựng lại tòa Cửu Phẩm Liên Hoa. Bia Hoàng Định 15 (1614) ghi: "Việc hưng công sửa chữa chùa của nhà sư họ Mai được tổng kết gồm có toà Cửu phẩm liên hoa, nhà Thiêu hương, Tiền đường, hành lang trái phải đằng trước, hành lang trái phả đằng sau, tam quan, trùng tu thượng điện, cộng đến 83 gian, làm mới các chư phật trên cửu phẩm tới 385 vị, tạc mới tượng Quan Âm Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn, 2 tượng hộ pháp thiện- ác, 1 tượng chủ núi, 3 tượng cô hồn, trùng tu tượng phật trên thượng điện là 18 vị sơn son, thếp lại 3 vị tam thế...".

            Sang thời Nguyễn (thế kỷ XIX, XX), chùa Côn Sơn còn khá tốt, cảnh quan chùa vẫn tươi đẹp. Tuy nhiên quy mô kiến trúc lớn thời Trần, thời Lê không còn. Ngày 15 tháng 2 năm 1965, Chủ tịnh Hồ Chí Minh về thăm Côn Sơn. Người đã căn dặn nhân dân Hải Dương hãy "Xây dựng Côn Sơn thành chốn tùng lâm đẹp của đất nước".

         Trải qua thăng trầm của lịch sử, ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn dấu ấn kiến trúc thế kỷ XIV, XVII, XVIII, XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: Hồ Bán Nguyệt, Tam quan, Gác chuông, phật điện, tòa Cửu phẩm liên hoa, tổ đường, hậu đường, tả hữu hành lang… Hệ thống tượng thờ khá phong phú, biểu hiện thế giới Phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh. Hiện chùa còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú: Hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX. Đặc biệt có tấm bia Thanh Hư động tạo thời Long Khánh (1372 – 1377), mang bút tích của vua Trần Nghệ Tông; Tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi" (1607), Bác Hồ đọc khi Người về thăm Côn Sơn (15/2/1965); Ngói mũi hài, ngói tráng men hoa nâu, đầu đao đất nung và chân tảng hoa sen là di tích thời Trần… Ngoài ra, còn các bộ sách kinh phật, bộ cúng đàn Mông Sơn Thí Thực, bùa chú của Huyền Quang, hệ thống phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi…

 

 

Gác chuông chùa Côn Sơn

 

          Trải qua bao năm tháng chiến tranh, sự phá huỷ của thiên nhiên chùa Côn Sơn nhỏ bé hơn rất nhiều so với hình bóng ngôi chùa xưa được ghi trong sử sách và bi kí. Nhưng không vì thế mà chùa Côn Sơn và núi rừng nơi đây mất đi vẻ tôn kính thiêng liêng vốn có của nó. Côn Sơn vẫn là nơi hấp dẫn bao tín đồ phật tử và du khách. Hơn nghìn năm tồn tại và phát triển, các lớp người Việt ngày ngày hành hương về Côn Sơn chiêm bái Đức Phật, tưởng niệm các bậc thánh nhân, anh hùng dân tộc... Với những giá trị văn hóa, lịch sử to lớn khu di tích lịch sử danh thắng Côn Sơn năm 1962, Côn Sơn được Nhà nước  xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia (theo quyết định QĐ 313 VH/QĐ ngày 28/4/1962). Năm 1992, khu di tích Côn Sơn được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa, danh thắng quan trọng quốc gia. Năm 2012, Khu di tích Côn Sơn được chính phủ phê duyệt là di tích quốc gia đặc biệt và lễ hội chùa Côn Sơn là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

 

 

Chùa Côn Sơn 

 

        Côn Sơn đã trở thành vùng văn hoá lịch sử, nơi di dưỡng tinh thần của bao bậc hiền triết. Các tao nhân mặc khách và muôn vàn kẻ sĩ của mọi triều đại tìm để thực hiện cuộc sống tâm linh trong sự hoà hợp tột cùng của âm – dương, sơn - thuỷ và trời - đất. Chẳng những Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi …đã tìm về đây để sống đạo, hoằng dương phật pháp, mà còn có cả những vị vua cuối đời Trần như Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và  nhiều trí thức Trần - Lê  khác dù đang phải gánh vác triều chính, thỉnh thoảng cũng lén về Côn Sơn để tu tâm dưỡng tính, tận hưởng không khí “bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên” (Trộm cái nhàn nửa ngày (ở Côn Sơn) ta cũng là tiên) theo cách nói của Nguyễn Phi Khanh. Ngày nay, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên về Côn Sơn thắp hương, tri ân các bậc thánh nhân và lớp lớp người Việt Nam đến Côn Sơn là tìm về cõi thanh hư, để gần hơn với Phật tâm, nghe tiếng chuông mà tỉnh cơn mê nhập vào miền thánh thiện.

Thứ 2, Ngày 2/4/2012