GÓP PHẦN TÌM HIỂU TẤM BIA "THANH HƯ ĐỘNG" Ở CHÙA CÔN SƠN

Trong số những tấm bia hiện còn ở chùa Côn Sơn, nổi bật là tấm bia "Thanh Hư Động” đặt trong sân chùa. Vào thời Long Khánh (1373 - 1377) Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán dựng động Thanh Hư trên Côn Sơn làm nơi lui nghỉ, khu động là một tập hợp công trình kiến trúc trên núi. Động làm xong vua Trần Duệ Tông tặng ba chữ ngự bút lớn "Thanh Hư Động" nêu ở mặt bia, Thượng Hoàng Nghệ Tông tự chế bài minh khắc ở sau bia.

           Chùa Côn Sơn tên chữ hán là Côn Sơn Thiên Tư Phúc Tự, tục gọi là chùa Hun, khởi dựng vào cuối thế kỷ XIII rồi được trùng tu tôn tạo ở các thế kỷ XVII - XVIII và mấy chục năm gần đây. Thời Trần chùa Côn Sơn là một trong những trung tâm của thiền phái phật giáo Trúc Lâm. Thời Lê chùa có quy mô 83 gian, có cửu phẩm liên hoa với 385 pho tượng...chùa hiện nay kiến trúc kiểu chữ Công (  ), còn ngói mũi hài và chân tảng hoa sen là di tích thời Trần. Trong chùa có những tượng phật cỡ lớn, cao tới 2 - 3m; 16 tấm bia ở xung quanh chùa là những văn bản ghi nhận quá trình trùng tu, xây dựng ngôi chùa, đồng thời cũng là những tác phẩm điêu khắc có giá trị.

Trong số những tấm bia hiện còn ở chùa Côn Sơn, nổi bật là tấm bia "Thanh Hư Động” đặt trong sân chùa. Vào thời Long Khánh (1373 - 1377) Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán dựng động Thanh Hư trên Côn Sơn làm nơi lui nghỉ, khu động là một tập hợp công trình kiến trúc trên núi. Động làm xong vua Trần Duệ Tông tặng ba chữ ngự bút lớn "Thanh Hư Động" nêu ở mặt bia, Thượng Hoàng Nghệ Tông tự chế bài minh khắc ở sau bia.

            Nguyễn Phi Khanh trong bài "Thanh Hư Động ký" viết năm Xương Phù 8 (1384) cho biết: "Bấy giờ, Người mới tâu xin một khu đất hoang ở Côn Sơn, sắp đặt cất một ngôi nhà để làm nơi lui về nghỉ ngơi...Người bèn tìm nơi thích hợp, xem xét tình thế. Một tiếng trống vang, muôn người xúm lại, phạt bụi san đồi, thế là suối nguồn được gạn trong, cỏ rác được dọn sạch, phu thợ đủ các nghề, xây đắp không nghỉ. Chưa đầy một tháng mà việc dựng cột, xây tường đều xong, chỗ cao khoáng khoát, chỗ thấp bằng phẳng, đứng xa trông chỉ thấy một màu xanh, khu động vây bọc những cảnh kỳ lạ và đẹp đẽ..Sau khi làm xong, đức vua Duệ Tông tự tay làm bài bia, khắc vào trước cửa động. Đức Thái Thái Thượng hoàng tự tay làm bài minh, khắc dưới lèn đá, ý đều là để nêu công lớn trước đây của Người ".(1)Sau khi Trần Nguyên Đán mất (1390) công trình Thanh Hư Động trở nên hoang tàn nhưng tấm bia Thanh Hư Động vẫn còn, Thượng Hoàng Nghệ Tông khi về Côn Sơn viếng  Trần Nguyên Đán làm bài thơ "Đề Tư đồ Trần Nguyên Đán từ đường" có nhắc đến tấm bia này:

"Diêm mai sự ký bi do tại"(2)

(việc muối mơ qua rồi, bia vẫn còn đây)

Trong thời kỳ giặc Minh xâm lược nước ta (1407 - 1427), chùa Côn Sơn với nhiều dấu tích của một hệ tư tưởng độc lập nên đã gặp phải chính sách diệt văn hoá của nhà Minh, nhiều di tích văn tự, văn hoá ở khu vực Côn Sơn bị thủ tiêu. Hơn nữa, trong những năm ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi phụ trách toàn bộ khối Đông đạo cũng có thể Côn Sơn là trung tâm chính trị của toàn bộ phía Đông. Sau nạn Lệ Chi Viên, chùa Côn Sơn cũng mất đi phần nhiều uy thế của mình. Trong suốt những năm từ 1442 - 1602, chùa Côn Sơn cũng không được nhà nước quan tâm, chú ý nên tiếp tục bị tàn phá "...Danh lam chùa Tư Phúc Côn Sơn vốn có người trông nom bỗng nhiều năm đổ nát".

Bia Thanh Hư Động còn sót lại có lẽ trước đó nằm trong núi sâu, hoang vắng nên thoát khỏi nạn huỷ diệt. Cho đến năm 1602, nhà sư Mai Trí Bản trong khi trùng tu chùa đã phát hiện ra và kéo tấm bia ra ngoài sân chùa rồi khắc bài ký "Côn Sơn Tư Phúc tự bi" vào mặt sau bia. Cũng từ đó tấm bia Thanh Hư Động bắt đầu tồn tại cùng với những tấm bia khác của chùa Côn Sơn cho đến ngày nay.

Hiện nay bia Thanh Hư động được dựng ở sân chùa Côn Sơn. Đây là tấm bia dẹt trán cong có kích thước tương đối lớn: cao 165cm, rộng 98cm, dày 17cm do một con rùa có kích thước tương ứng đội. Mặt trước, trán bia khắc 4 chữ thể Triện lớn theo hai dòng, từ trên xuống, phải sang trái: Long Khánh Ngự Thư trong khung chữ nhật dài 22cm; rộng 25cm, giữa bia đề ba chữ lớn: Thanh Hư Động mỗi chữ kích thước 35cm x 35cm, viết chân phương. Xung quanh diềm bia trang trí hình rồng triện gẫy khúc. Mặt sau bia khắc bài ký "Côn Sơn Tư Phúc tự bi". Nội dung:  Chùa Tư Phúc là nơi Trần Minh Tông (1300 -1357) tu thân học đạo. Vị tổ thứ ba thiền phái Trúc Lâm là Huyền Quang (1254 -1334) từng trụ trì tại đây. Nay chùa đã hư hỏng nhà sư trụ trì Mai Trí Bản đứng ra hưng công, cùng mọi người xây dựng lại tam quan, phòng oản. Nay khắc bia  ghi tên họ những người đã công đức. Niên hiệu: Hoằng Định tam niên (1602), chữ viết trên mặt sau có 29 cột, mỗi cột có từ 2 - 45 chữ, trán bia trang trí mặt trời, diềm bia trang trí hoa dây đơn.

          Thanh Hư Động là tấm bia quý, tài sản vô giá của khu di tích Côn Sơn, vì ngoài niên đại lâu đời nhất trong các bia hiện còn ở Côn Sơn, tấm bia này là tư liệu giúp chúng ta tìm hiểu sâu hơn về Thanh Hư Động. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu văn bia Thanh Hư Động, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm trái ngược nhau về niên đại tấm bia này.

- Quan điểm thứ nhất dựa vào 4 chữ Long Khánh Ngự Thư (Vua có niên hiệu Long Khánh tự tay viết chữ) cùng hình thức trang trí mặt trước bia cho rằng: mặt trước của bia có niên đại thời Long Khánh (1373 - 1377), ba chữ Thanh Hư Động đúng là ngự bút của vua Trần Duệ Tông, không phải là những chữ được khắc lại. Mặt sau "Vốn khắc bài minh Côn Sơn Thanh Hư Động bi minh của Trần Nghệ Tông. Năm 1602 bài minh này bị mài đi và khắc vào đó bài ký Côn Sơn Tư Phúc Tự bi".(3)Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm này là PGS TS Chu Quang Trứ, Phạm Đức Huân, Tăng Bá Hoành,(4) Phan Đình Ứng,(5) Nguyễn Đức Dũng (6)...

- Quan điểm thứ hai cho rằng: ba chữ Thanh Hư Động ở mặt trước là những chữ được khắc lại vào năm Hoằng Định tứ niên (1603). Mặt sau bia được khắc vào năm Hoằng Định tam niên (1602). Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm này là TS Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Thị Thuỳ Liên (7)...ở một bài viết của mình TS Đinh Khắc Thuân viết: "Về văn bản văn bia thời Lý - Trần cũng còn nhiều điều phải suy nghĩ. Trong sách Văn Khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2, đã có vài văn bản không phải là bia thời Trần, tiêu biểu là văn bia Thanh Hư Động, được dùng làm bìa sách, tuy có niên đại vào đời vua Trần Duệ Tông (1373 - 1377), song thực tế văn bia này đã được khắc lại hoàn toàn cả hoa văn, trang trí lẫn nội dung văn bản vào năm Hoằng Định 4 (1603) thời Lê".(8) .

Giữa hai quan điểm trái ngược nhau như vậy, muốn có một sự lựa chọn cho thật dứt khoát, hẳn không dễ dàng. Qua nghiên cứu lịch sử khu di tích Côn Sơn, nghiên cứu văn bia Thanh Hư Động chúng tôi có một vài ý kiến trao đổi với các nhà nghiên cứu về vấn đề này như sau:

Thứ nhất: xét về chữ viết trên bia chúng ta thấy trong chữ  Thanh thì chữ Nguyệt đã viết thiếu một nét ngang thay bằng một vòng tròn. Căn cứ vào những chữ huý thời Trần như chữ Thừa, chữ Tộ mà nét cuối cùng thay bằng một vòng tròn, chúng ta biết rằng chữ Nguyệt là một chữ phải kiêng huý thời Trần. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ngày 12 tháng 4 năm Hưng Long thứ 7 (1299), vua Trần Anh Tông đã ban bố một loạt tên phải kiêng huý trong đó có chữ Nguyệt. "Xuống chiếu cấm chữ húy của Khâm Minh Đại Vương và Thiện Đạo Quốc mẫu (Khâm Minh tên huý là Liễu,  Thiện Đạo tên huý là Nguyệt; Thiện Đạo là phu nhân của Liễu) khi làm văn không được dùng".(10)Việc tuân thủ triệt để kiêng huý chữ nguyệt thời Trần, cho phép ta nói chắc chắn rằng mặt trước bia Thanh Hư Động có niên đại thời Trần, ba chữ Thanh Hư Động là ngự bút của vua Trần Duệ Tông.

Để củng cố nhận định trên, chúng tôi đã xem những chữ viết trong bài ký "Côn Sơn Tư Phúc tự bi" khắc ở mặt sau bia thì thấy những chữ Nguyệt ở mặt sau không hề kiêng huý mà vẫn viết đủ nét. Hơn nữa, bên cạnh tấm bia Thanh Hư Động là tấm bia "Phụng lệnh dụ cung cấp tam bảo tạo lệ bi kí/ Khôi tạo trùng tu Phật tổ Côn Sơn Tư Phúc tự" dựng năm Thịnh Đức nguyên niên (1653) đã hai lần nhắc đến địa danh "Thanh Hư Động" nhưng chữ Nguyệt  không hề kiêng huý mà vẫn viết đủ nét.

 Như vậy, nếu văn bia Thanh Hư Động được khắc lại vào năm 1603 với chữ Nguyệt kiêng huý, thì tại sao những văn bia khắc cùng thời kỳ (1602, 1653) lại không tuân thủ việc kiêng huý này?.

          Thứ hai: xét về hình dạng con rùa đội bia Thanh Hư Động: mai rùa để trơn, đầu rùa tạc rõ hai mắt và sống mũi, tư thế nghển cao, đuôi rùa vắt lên mai. Bốn chân rùa, năm móng quắp lại nén xuống đất như đang ráng sức đỡ tấm bia trên lưng. Hình dạng rùa khá giống rùa ở bia tháp Viên Thông khắc dựng năm Đại Trị ngũ niên (1362).(11) Hiện nay, ở chùa Côn Sơn còn một tấm bia có rùa đội; đó là bia "Trùng tu Tư Phúc tự bi" niên đại Hoằng Định thập tứ niên (1613). Nếu so với con rùa đội bia Thanh Hư Động ta dễ dàng nhận thấy hai con rùa này khác nhau hoàn toàn, con rùa đội bia "Trùng tu Tư Phúc tự bi" đầu không nghển cao, không có đuôi, mai rùa khá sù sì và úp sát đất. Nếu cho rằng bia Thanh Hư Động được khắc lại hoàn toàn vào năm Hoằng Định tứ niên (1603) thì tại sao chỉ cách nhau chục năm, tại cùng một di tích, do một người đứng ra hưng công xây dựng (nhà sư Mai Trí Bản) mà hai con rùa đội hai tấm bia lại mang hai phong cách khác nhau như vậy? Ngược lại nếu cho rằng con rùa đội bia Thanh Hư Động là rùa thời Trần, chúng ta thấy không phải vô căn cứ, vì so với con rùa đội bia tháp Viên Thông được khắc dựng trước đó hơn chục năm chúng giống nhau hoàn toàn.

Thứ ba: qua khảo sát bia Thanh Hư Động, chúng tôi nhận thấy phần diềm chân bia ở mặt trước có khắc hình rồng triện gẫy khúc đã mờ, nhưng có nhiều chữ khắc chèn lên cả diềm bia. Rõ ràng giữa trang trí diềm chân bia và những chữ khắc chèn lên không thể khắc cùng một giai đoạn được, những hoa văn hình rồng triện gẫy khúc ở diềm chân bia đã có trước (thời Trần), đến khi khắc tên những người công đức xây dựng chùa (1603) vì diềm bia đã mờ nên người ta khắc chèn cả chữ vào diềm bia.

          Tóm lại, mặc dầu còn phải tìm hiểu thêm, ta vẫn có thể gạt bỏ một nhầm lẫn đã tồn tại từ lâu đến nay cho rằng mặt trước của tấm bia Thanh Hư Động là những chữ được khắc lại vào năm Hoằng Định tứ niên (1603), không phải là ngự bút của vua Trần Duệ Tông viết vào niên hiệu Long Khánh (1373 - 1377). Và khẳng định văn bia Thanh Hư Động là một tư liệu văn bản thời Trần. Nó góp phần quan trọng trong việc nhận diện niên đại của nhiều tấm bia thời Trần không khắc ghi niên đại, hoặc việc ghi chép niên đại không rõ ràng lắm. Đồng thời, góp tư liệu và các tiêu chí quan trọng cho việc nghiên cứu thư pháp thời Trần và lịch sử phát triển khu di tích danh thắng Côn Sơn./.

Lê Duy Mạnh

Chú thích:

(1).Viện Văn học, "Thơ văn Lý Trần" tập III, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 497

(2).Viện Văn học, s.đ.d, tr. 220

(3).Chu Quang Trứ - Phạm Đức Huân, Hồ sơ khoa học "Khu di tích lịch sử danh thắng Côn Sơn", tài liệu lưu tại Cục Di sản văn hoá, tr. 37.

(4). Tăng Bá Hoành, "Côn Sơn - Kiếp Bạc, quá trình hình thành và phát triển", Di sản văn hoá, số 1(14) - 2006, tr.53.

(5). Phan Đình Ứng, "Vài nét về thư pháp thời Trần" - kỷ yếu hội thảo khoa học "Thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà", Sở VTTT Nam Hà, 1996, tr.77.

(6). Nguyễn Đức Dũng, "Ngày xuân gợi nghĩ về nghệ thuật thư pháp", Di sản văn hoá, số1(14) - 2006, tr. 119.

(7). Nguyễn Thị Thuỳ Liên, "Chùa Côn Sơn ", Di sản văn hoá, số 1(14) - 2006, tr. 63.

(8). Đinh Khắc Thuân, "Vai trò của tư liệu Hán Nôm đối với di tích và danh lam thắng cảnh ở Việt Nam" trong cuốn "Một con đường tiếp cận di sản văn hóa", Cục Di sản văn hoá, Hà Nội, 2005, tr. 334.

(9). Viện Văn học, s.đ.d, tr. 224.

(10). Ngô Sĩ Liên, "Đại Việt sử ký toàn thư"  tập II,  Nxb VHTT, Hà Nội, 2003, tr.113.

(11). "Thanh Mai Viên Thông tháp bi", bia dựng tại chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Thứ 2, Ngày 2/4/2012