LỄ TƯỞNG NIỆM 731 NĂM NGÀY MẤT CỦA ĐỨC TRẦN TRIỀU NGUYÊN TỪ QUỐC MẪU THIÊN THÀNH THÁI TRƯỞNG CÔNG CHÚA (1288 - 2019)

Sáng nay, ngày 26/10 (tức ngày 28/9 âm lịch), UBND xã Hưng Đạo phối hợp với Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc cùng nhân dân làng Vạn Yên, Dược Sơn, Bắc Đẩu long trọng tổ chức Lễ tưởng niệm 731 ngày mất của Đức Nguyên Từ Quốc Mẫu - Thiên Thành Thái Trưởng công chúa, phu nhân của Đức Đại Vương Trần Hưng Đạo.

                

Lễ rước của nhân dân làng Vạn Yên, Dược Sơn, Bắc Đẩu


            Dự lễ có đồng chí Nguyễn Thị Việt Nga - Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Hải Dương, đồng chí Nguyễn Thành Trung - Phó giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Hải Dương; đồng chí Nguyễn Thị Thùy Liên - Trưởng ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND xã Hưng Đạo; Bí thư, Trưởng các thôn Vạn Yên, Dược Sơn, Bắc Đẩu cùng cán bộ, nhân viên Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc và đông đảo du khách thập phương tham dự.

Các đồng chí lãnh đạo và nhân dân dự Lễ tưởng niệm 731 năm ngày mất 

của Đức Nguyên Từ Quốc Mẫu - Thiên Thành Thái Trưởng công chúa

 

          Ngày 25/10 (tức ngày 27/9 âm lịch) tại khu di tích Kiếp Bạc diễn ra các nghi lễ: cúng Phật, cúng Thánh, hội đồng Trần triều, Lễ dâng hương cáo yết xin Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương, Đức Quốc Mẫu tổ chức lễ giỗ, Lễ cúng chúng sinh. Các nghi lễ thu hút đông đảo du khách và nhân dân địa phương tham dự. 

          Sáng ngày 26/10 (tức 28/9 âm lịch) diễn ra lễ rước bộ của làng Dược Sơn, Bắc Đẩu và Vạn Yên từ đền Nam Tào, đền Bắc Đẩu rước lễ về đền Kiếp Bạc. Lễ phẩm rước gồm lễ chay, lễ mặn và đủ các sản vật địa phương... Lễ rước được cử hành trong không khí trang nghiêm, lộng lẫy cờ hoa, nghi trượng cùng tiếng trống chiêng, đàn sáo rộn rã của phường bát âm. Tiếp đó là Lễ dâng hương tưởng niệm 731 năm ngày mất của Đức Trần Triều Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng và lễ tế của các cụ cao niên làng Vạn Yên. Dược Sơn, Bắc Đẩu.

          Tại buổi lễ ông Nguyễn Duy Đăng - Chủ tịch UBND xã Hưng Đạo đại diện Ban tổ chức đọc diễn văn Lễ tưởng niệm nêu rõ về tiểu sử, công đức của Đức Quốc Mẫu Trần Triều.         

         Nguyên Từ Quốc Mẫu Trần Triều húy là Anh, hiệu là Thiên Thành Thái trưởng công chúa; con gái trưởng của vua Trần Thái Tông. Sinh ra và lớn lên trong hoàng cung, được nuôi dưỡng và trưởng thành dưới sự giáo dục khuôn phép của hoàng tộc, Đức Quốc Mẫu có phẩm hạnh nhân từ mẫu mực, tư chất tài hoa, quyền quý của bậc vương nhi dòng tôn thất.

          Năm Tân Hợi, niên hiệu Nguyên Phong thứ nhất (năm 1251), công chúa Thiên Thành sánh duyên cùng Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương. Từ đó, Đức Quốc Mẫu rời chốn hoàng cung, cùng phu quân kinh bang, tế thế khắp thiên hạ; đồng cam cộng khổ, sát cánh, phụng sự bên Quốc Công; nuôi dưỡng các con, chăm lo việc nước, tham gia kháng chiến. Bốn người con trai là Hưng Vũ vương, Hưng Hiến vương, Hưng Nhượng vương, Hưng Trí vương, cùng 2 vương cô là Khâm từ Bảo thánh Hoàng Thái Hậu và Nữ Đại Hoàng Anh Nguyên Quận chúa, dưới sự chăm sóc của Quốc Mẫu đều trở thành những tướng tài kiệt xuất, những vị liệt nữ trâm anh thế phiệt của đất nước, lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Người xưa ca tụng tài khéo dạy con của Quốc Mẫu:

Nhị hậu điển hình phương hoa quy ngọc diệp,

Tứ vương huân nghiệp đức thụ xuất kim chi.

Có nghĩa là: “Hai cô con gái tượng trưng cho hoa thơm, lá ngọc,

                   Bốn người con trai làm nên nghiệp lớn tựa cành vàng.”

          Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của quân dân Đại Việt ở thế kỷ 13, đã ghi danh công lao to lớn của Đức Quốc Mẫu, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.

          Năm 1285, 1288 quân Nguyên Mông kéo sang xâm lược nước ta lần thứ 2 và lần 3, Quốc Mẫu được vua Trần giao trực tiếp quản lý, hướng dẫn các gia đình quý tộc đi lánh nạn và vận động nhân dân làm kế thanh dã (vườn không, nhà trống) nhằm tiêu hao sinh lực địch.

          Tại đại bản doanh Vạn Kiếp, Quốc Mẫu phụ trách hậu cần, lo việc quân lương, tổ chức sản xuất, bố trí, cắt đặt kho lương thảo, tận dụng địa thế núi rừng, sông ngòi hiểm yếu để phòng bị, tích trữ lương thảo khí giới, phục vụ quân doanh trong mọi tình thế. Dân gian còn  truyền tụng câu ca:        

Trâu thì Mẫu thả Huyền Đinh

Lợn thì Mẫu thả cánh đồng Trung Quê.

          Ngày nay, khu vực thung lũng phía Đông Nam thuộc làng Bến, làng Gạo, làng Thanh Tân, Thanh Tảo, Trung Quê còn nhiều di tích, địa danh gắn liền với tên gọi các kho hậu cần, quân lương của Quốc Mẫu như: Chùa Gạo, Hố Lợn, Lòng Thuyền, Bãi Tàn, Bãi Quạt, Nghè Dím, Đông Hoàn...

          Đặc biệt, tài năng cũng như công lao của Đức Quốc Mẫu còn được biết đến trong việc trồng và làm thuốc nam để chữa bệnh cho nhân dân và chữa thương cho quân sỹ. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, Hưng Đạo Đại vương và Thái Y viện nhà Trần rất coi trọng việc sử dụng các cây thuốc trong nước. Tại Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo đã giao cho Đức Phu Nhân Quốc Mẫu trực tiếp chỉ đạo trồng vườn thuốc nam trên núi Dược Sơn. Vườn thuốc của Đức Quốc Mẫu đã dùng chữa bệnh, trị thương cho nhiều binh sĩ, bảo vệ sức khoẻ cho quân và dân Đại Việt, góp phần vào chiến thắng chống giặc ngoại xâm. Dược Sơn là vườn thuốc quốc gia đầu tiên của nước ta mà cho đến nay vẫn là “độc nhất vô nhị”. Dân trong vùng truyền rằng, thuốc trồng ở núi Dược Sơn có công dụng kỳ lạ, không có thứ thuốc nào sánh kịp.

                             “Dược lĩnh hoa thơm cỏ lạ thường

                             Biết chăng chăng biết thuốc thần tiên

          Hơn 7 thế kỷ qua, ngày giỗ Đức Quốc Mẫu, con dân đất Việt có tục đến đền Kiếp Bạc xin thuốc của Quốc Mẫu về chữa bệnh, mong cầu trường thọ, sức khỏe bình an. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên có chép: “Các châu huyện Lạng Giang bị bệnh chẩn đậu, nhiều người kêu cầu đều ứng nghiệm”. Các loại thuốc do Quốc Mẫu bào chế được dân gian coi là tiên dược. Nghề làm thuốc Nam ở Dược Sơn cũng có nguồn gốc từ đây và được lưu truyền đến tận ngày nay.

          Đức Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng công chúa đã trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu, điển hình của người phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà, xứng danh với câu ca:

     “Quốc sắc khuynh thành thiên hạ hữu

     Anh linh liệt nữ thế gian vô”

  Nghĩa là: Trong thiên hạ, người phụ nữ có sắc đẹp làm nghiêng nước, nghiêng thành đã từng có; nhưng người phụ nữ có công đức giúp nước, cứu dân trở thành anh hùng, Thánh nữ thì vô cùng hiếm có.

          Ngày 28, mùa thu tháng 9 năm Mậu Tý (1288), Đức Quốc Mẫu từ trần tại tư dinh Vạn Kiếp. Với công lao to lớn trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ giang sơn, đất nước, Vua Trần sắc phong tước hiệu Trần triều Bảo Thánh Nguyên Từ Quốc Mẫu, Thiên Thành Thái trưởng công chúa, sắc chỉ cho nhân dân tạc tượng, phụng thờ tại đền Kiếp Bạc.

          Kết thúc buổi lễ diễn ra lễ tế trang nghiêm của 2 làng Vạn Yên, Dược Sơn tại nội tự đền Kiếp Bạc mong cầu Quốc Mẫu phù hộ, độ trì, che chở cho muôn dân được ấm no hạnh phúc, mong cầu cho quốc thái dân an, nhân khang vật thịnh.

Lễ tế của các cụ làng Vạn Yên, Dược Sơn và Bắc Đẩu


          Lễ giỗ Mẫu được tổ chức trang trọng, linh thiêng theo nghi thức truyền thống, tôn vinh được công lao to lớn và đức hạnh của Đức Quốc Mẫu, thể hiện lòng thành kính, sự tri ân của thế hệ con cháu hôm nay trước uy linh của Người. Đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa về Đức Quốc Mẫu tại khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc.

 

Tin bài, Ảnh: Phòng Nghiệp vụ

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012