TẤM BIA BÁC HỒ ĐỌC TẠI CHÙA CÔN SƠN

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bốn lần về thăm Hải Dương (1). Sáng ngày 15/02/1965, Bác đến thăm hợp tác xã Hồng Thái (Ninh Giang) lá cờ đầu trong phong trào làm thuỷ lợi miền Bắc và xã Nam Chính (Nam Sách) lá cờ đầu về vệ sinh nông thôn.

 

         Buổi trưa Bác về Côn Sơn (Chí Linh), chốn Quốc tự nghìn xưa, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các triều đại cùng dấu ấn của nhiều danh nhân đất Việt như: Đệ tam tổ thiền phái Phật giáo Trúc Lâm Huyền Quang tôn giả (1254 - 1334), Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) và đặc biệt là anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi (1380 - 1442).
Sau khi thắp hương ở chùa và Tổ đường (nơi thờ Tam Tổ Trúc Lâm và Nguyễn Trãi), Bác dừng lại bên tấm bia Côn Sơn Tư Phúc tự bi (bia chùa Côn Sơn Tư Phúc). Bác vừa dịch vừa giảng giải cho anh em trong đoàn hiểu về nội dung của tấm bia. Hình ảnh Bác đọc bia ở chùa Côn Sơn như một biểu tượng trân trọng hướng về nền văn hoá truyền thống của dân tôc, tô thắm cho nền văn hoá xứ Đông.

       Tấm bia Bác Hồ đọc mang tên Côn Sơn Tư Phúc tự bi. Đây là một trong số 14 tấm bia hiện còn ở chùa Côn Sơn, hiện nằm tại nhà bia thứ hai bên trái chùa Côn Sơn từ cổng vào, bia cao 1,20m; rộng 0,32m, bia có 6 mặt hình lục lăng rất đẹp và độc đáo, mỗi mặt có 68 dòng, mỗi dòng có 15 đến 30 chữ, chữ trên bia được thể hiện theo lối Chân thư(2), sáu chữ tiêu đề bia được chạm to dưới trán. Diềm chân vòng quanh 6 mặt bia là hoa dây uốn sóng với các tay mướp bo, diềm trên có hai hàng: Hàng dưới ở hai bên mỗi chữ tên bia là những loại hoa lá khác nhau, ở hàng trên mỗi mặt là một đồ án rồng hoặc phượng: Mặt 1 ứng với chữ Côn chạm đôi rồng chầu mặt trời, mặt 4 đối lại phía sau ứng với chữ Phúc chạm đôi phượng chầu mặt trời, còn 4 mặt bia mỗi mặt chạm một con rồng uốn khúc khác nhau, trên nền mây cụm và mây 3 dải, thân tròn dài uốn vặn, chỉ có một con mặt nhìn thẳng còn các con khác nhìn ngang, chung một dạng cấu trúc tai nhỏ, sừng dài, tóc dày, hai sợi râu mép rất dài, chân 3 móng (riêng con ở mặt chữ Tự có 4 móng).

          Côn Sơn Tư Phúc tự bi dựng năm Hoằng Định thứ 8 (1607) đời Lê Kính Tông, do Chiêm Đường Nguyễn Đức Minh soạn, Tạ Tuấn viết chữ, Lê Liễu người xã Kính Chủ khắc bia. Đây là tấm bia dạng thức lục giác rất hiếm ở nước ta, niên đại sớm nhất của dạng bia sáu mặt là tấm bia Quốc sư Báo Ân tự bi ở chùa Báo Ân (Hải Dương) dựng năm 1585, sau đó chính là bia Côn Sơn Tư Phúc tự bi dựng năm 1607.

          Tại thư viện Viện nghiên cứu Hán nôm, bản rập tấm bia này mang các ký hiệu liên tiếp từ số 18776 đến 18781. Kết hợp với các tháp bản và bia hiện vật, chúng tôi giới thiệu tóm tắt nội dung các mặt bia như sau:

     - Mặt thứ nhất: Trán bia đề chữ "Côn" cho biết chùa Côn Sơn Tư Phúc có quy mô từ thời trần. Là nơi trụ trì của đệ Tam Tổ thiền phái Phật giáo Trúc Lâm Huyền Quang Ma Ha Đại Tôn Giả. Đến năm 1608, sư trụ trì đương thời là Mai Trí Bản đứng ra lo liệu việc trùng tu, lại sai các đệ tử đi khuyến giáo các quan lại, quý chức, cung tần, thái nữ cùng thiện nam, tín nữ các nơi góp tiền đủ mua các thửa ruộng, hưng công xây dựng thiêu hương, tiền đường, hậu đường, tả hữu hành lang, tam quan, thượng điện,… trùng tu tượng Phật, lại khắc các kinh sách; nhân đó mua bia đá khắc những công đức ấy lưu truyền hậu thế.

     - Mặt thứ hai: Trán bia đề chữ "Sơn" ghi tên các hội chủ và tín nữ quê ở xã Xích Đằng, xã Đức Trạch, phủ Khoái Châu công đức tiền xây dựng 16 gian hành lang, hội chủ và tín nữ ở xã Tử Nê, huyện Tiên Du, hưng công xây dựng 13 gian đông hành lang, hội chủ xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc hưng công xây dựng tam quan, hậu đường và tây hành lang chùa.

     - Mặt thứ ba đề chữ "Tư" ở trán bia, ghi tên sãi vãi, các bậc hiền nhân quân tử xã Chi Ngại, xã Đại Bát, xã Đại bộ, xã Phú Động, xã An Quảng, xã Lạc Sơn, xã Hà Liễu, xã Hoàng Động, xã Lạc Đạo, xã Đông Đôi, xã Vĩnh Trụ, xã Cổ Trâu. Và một số tín chủ thập phương công đức trùng tu chùa, tổng cộng trên 150 người.

     - Mặt thứ tư: Trán bia đề chữ "Phúc" ghi tên 4 nhà sư có tiếng thời bấy giờ giúp sức vào việc sửa chữa chùa Côn Sơn là: Tỳ kheo Trần Đạo An tự Định Hương, trụ trì chùa Tịnh Quang xã Từ Sơn, sư phụ trụ trì chùa Hoa Yên là Nguyễn Quỳnh Cư tự Huệ Quang, Thiền sư trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm là Vũ Văn Thông tự Huệ Hải, hiệu Linh Không, thiền sư Mai Trí Bản tự Huệ Pháp hiệu Pháp Nhẫn, tên một số tín chủ khác. Cuối bia ghi vị trí 80 mẫu ruộng của chùa Côn Sơn Tư Phúc.

     - Mặt thứ năm: Trán bia ghi chữ "Tự", có khắc bài minh dài 32 câu, mỗi câu 4 chữ, nội dung ca ngợi cảnh đẹp của Côn Sơn. Đây là một đoạn trích trong bài minh:

      Trời xây Nam quốc,
      Đất dựng Bắc thành.
      Tráng thay huyện Phượng,
      Đẹp thay động Thanh.
      Ba nghìn thế giới,
      Khoe đệ nhất hình.
      Yên Tử dựng trụ,
      Bình Thanh tây thành.
      Huyền Đinh sau trấn,
      Lục thuỷ tiền nghênh.
      Phong cảnh tuyệt mỹ,
      Hạc ca trời ấm
      Nguy nga tự vũ,
      Diệu tướng kim tinh.
      Lâu đài trăng sáng,
      Chuông trống gió rung.
      Tay vui ghế tựa,
      Miệng đọc chân kinh.
      Suối rồng phun ngọc,
      Đất thánh phúc sinh...

   - Mặt thứ sáu: Trán bia đề chữ "Bi" ghi tên nhà sư Mai Trí Bản và môn đồ là Khưu ni Mai Ngọc Liên tự Huệ Diệu ở xã Mai Cương, huyện Quế Dương cùng hội chủ xã Thanh Khê, huyện Vĩnh Lại, xã Văn Lâm, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Giang. Xã Đại Tân, xã Tam Quyền tất cả hơn 30 người hưng công xây dựng 5 gian thiêu hương, mua một thửa ruộng 4 sào cúng dàng Tam Bảo.

          Như vậy, tấm bia Bác Hồ đọc ở Côn Sơn mang tên Côn Sơn Tư Phúc tự bi, một tư liệu quý về văn học, sử học, mỹ thuật, nhất là đối với việc nghiên cứu lịch sử phát triển của chùa Côn Sơn. Trước đây có một vài bài viết giới thiệu nội dung của tấm bia này, nhưng còn sơ sài hoặc nhầm lẫn nhiều chỗ(3). Du khách khi về thăm Chùa Côn Sơn đều đến chiêm ngưỡng tấm bia này, nhưng chưa hiểu rõ được nội dung. Qua bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu đầy đủ hơn nội dung của tấm bia lịch sử này.
--------
Lê Duy Mạnh 

Chú thích
1: Theo “Bác Hồ với Hải Dương”, Hội VHNT tỉnh Hải Dương, năm 2000.
2: Chân Thư: chữ viết chân phương ngay ngắn, vuông thành sắc cạnh, nét nào ra nét đấy, là 1 trong 7 phương pháp viết chữ Hán thời xưa.
3: Xem thêm: BCH Đảng bộ huyện Chí Linh: Người Vạn Kiếp - Côn Sơn, năm 1976.
Nguyễn Tuấn Thịnh: Tấm bia Bác Hồ đọc ở Côn Sơn, tạp chí Hán Nôm số 1, năm 1986

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012