NHỮNG PHÁT HIỆN KHẢO CỔ HỌC TẠI DI TÍCH CÔN SƠN - KIẾP BẠC.

Năm 1972, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam và Ty văn hoá Hải Hưng đã tổ chức khai quật, nghiên cứu khảo cổ học phía sau đền Kiếp Bạc với quy mô lớn (180m2 ). Kết quả đã phát hiện được dấu tích nền móng kiến trúc phủ đệ của H­ưng Đạo Đại V­ương ở thế kỷ XIII gồm: 2 cấp nền nhà, vết tích gạch bó thềm, hàng chân tảng cột, gạch vuông : 39 x 39 x 8 cm, có hoa văn in nổi hình hoa thị (gạch hoa thị), đ­ường ống dẫn n­ước bằng đất nung. Ngoài ra, còn tìm thấy nhiều hiện vật: Ngói mũi hài, ngói chiếu, gạch trang trí, đồ gốm có men: men ngọc, men da l­ơn, men nền trắng hoa nâu...; các đồ sắt, đồng: dao, đinh, tiền đồng niên hiệu Nguyên Phong thông bảo (Trần Thái Tông 1251 - 1258). Đây là di tích gốc, có giá trị về nhiều mặt, b­ước đầu hiểu biết cụ thể về quy mô, kiến trúc…của phủ đệ Vạn Kiếp.

            I. Giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1979.

1. Khu di tích Kiếp Bạc.
a) Sân sau đền Kiếp Bạc:
Năm 1972, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam và Ty văn hoá Hải Hưng đã tổ chức khai quật, nghiên cứu khảo cổ học phía sau đền Kiếp Bạc với quy mô lớn (180m2 ). Kết quả đã phát hiện được dấu tích nền móng kiến trúc phủ đệ của H­ưng Đạo Đại V­ương ở thế kỷ XIII gồm: 2 cấp nền nhà, vết tích gạch bó thềm, hàng chân tảng cột, gạch vuông : 39 x 39 x 8 cm, có hoa văn in nổi hình hoa thị (gạch hoa thị), đ­ường ống dẫn n­ước bằng đất nung. Ngoài ra, còn tìm thấy nhiều hiện vật: Ngói mũi hài, ngói chiếu, gạch trang trí, đồ gốm có men: men ngọc, men da l­ơn, men nền trắng hoa nâu...; các đồ sắt, đồng: dao, đinh, tiền đồng niên hiệu Nguyên Phong thông bảo ( Trần Thái Tông 1251 - 1258). Đây là di tích gốc, có giá trị về nhiều mặt, b­ước đầu hiểu biết cụ thể về quy mô, kiến trúc…của phủ đệ Vạn Kiếp.     
Dấu tích phủ đệ của Trần Hưng Đạo Đại Vương, thế kỷ XIV,
phát hiện sau đền Kiếp Bạc, năm 1972.
 
          b) Núi Dược Sơn ( núi Nam Tào)
Tại hố khai quật ở mặt bắc chân núi Nam Tào, cách đền Kiếp Bạc 300m, các nhà khảo cổ của Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam và Ty văn hoá Hải Hưng đã tìm thấy hai lò nung ( lò cóc). Lò được khoét vào đất chân núi, phần cửa và bụng lò xây bằng gạch vồ. Nền lò hình tròn, có 3 ống thông hơi ở vách trong. Ngoài ra, còn phát hiện nhiều hiện vật trong khu vực này: Lon sành, mảnh đồ men, mảnh gạch ngói màu xanh xám…Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc của lò và các di vật tìm được cho thấy đây là loại lò nung gạch và đồ sành có niên đại thế kỷ XIV, thế kỷ XV.
c) Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có một số cuộc thám sát, khai quật khảo cổ học khu vực Ao Cháo ( Kiếp Bạc)…
               
          Lò gốm cóc, phát hiện tại chân núi Nam Tào, năm 1972
 2. Khu di tích Côn Sơn.
Tháng 3, 4 năm 1979, Ty Văn hoá và thông tin Hải H­ưng đã tổ chức nhiều cuộc điều tra, thám sát khảo cổ ở Côn Sơn:
          a) Đăng Minh Bảo Tháp ( tháp mộ đệ tam tổ Trúc Lâm Huyền Quang)
Tại hố khai quật cạnh Đăng Minh Bảo Tháp ( tháp mộ của đệ tam tổ Trúc Lâm Huyền Quang tôn giả trùng tu năm 1792 ) đã phát hiện những di vật kiến trúc của ngôi tháp bằng đất nung. Sau khi sắp xếp các chi tiết kiến trúc tìm đư­ợc cho thấy đây là ngôi tháp cấu trúc hình vuông. Căn cứ đặc điểm vật liệu, kiến trúc, hoa văn và thư­ tịch cổ, các nhà khảo cổ học đã nhận định đây là Đăng Minh Bảo Tháp đ­ược xây dựng ở thế kỷ XIV, đặt xá lỵ của Huyền Quang tôn giả sau khi Ng­ười viên tịch tại Côn Sơn. Kết quả khai quật này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về lịch sử di tích và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc thời Trần.
                    
 
   Đăng Minh Bảo Tháp, phát hiện tại Côn Sơn, năm 1979.
 
          b) Khu vực Thanh Hư Động:
Tại hố thám sát khu vực khu nền nhà lớn nhất, cách Thạch Bàn 80m,  các nhà khảo cổ đã phát hiện 1 kè đá dài 27m và nhiều hiện vật gồm: bát men ngọc có dấu con kê, một vỉa gạch, ngói mũi nhọn ( 15x21cm)…Trên cơ sở phân tích đặc điểm kiến trúc, hoa văn trang trí trên các di vật, kết hợp tư liệu chính sử, bước đầu nhận định đây là khu vực liên quan mật thiết đến quan Tư đồ phụ chính Trần Nguyên Đán. Nhiều khả năng đây là nền nhà cũ của ông.
          c)Chùa Côn Sơn.
Tại hố thám sát vuông góc với Thượng Điện (phía bên phải chùa Côn Sơn), ở độ sâu hơn 2m đã xuất lộ 3 dấu tích kiến trúc kè đá chạy song song với tường Thượng điện. Lớp văn hóa từ 1,2m trở xuống phát hiện nhiều hiện vật đặc trưng thời Trần, thậm trí lần đầu tiên được biết đến: phù điêu hình chữ S lồng, ngói trang trí hoa văn hình trán bò, lá đề, sen cách điệu, hoa cúc dây, sen phượng, rồng chầu trong hình lá đề…Căn cứ các thư tịch cổ, kết quả khai quật, các di vật tìm thấy, cho biết các hiện vật ở lớp văn hóa cuối cùng của hố thám sát có niên đại thời Trần.
 
          II. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000.
          1. Khu di tích Kiếp Bạc.
          a) Di tích Xóm Hống - Cánh đồng Vạn Yên xã Hư­ng Đạo.
Năm 1996, sau các cuộc điều tra, khám sát khảo cổ học của Bảo tàng Hải Hưng, Trường Đại Học tổng hợp, chuyên gia Nhật Bản từ năm 1986 -1989, tại di tích xóm Hống thuộc cánh đồng Vạn Yên thuộc khu di tích đền Kiếp Bạc, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hải D­ương đã phối hợp tổ chức khai quật tại đây với diện tích là 42m2. Qua 10 lớp đất đào, ở độ sâu từ 190 - 245cm, các nhà khảo cổ đã xác định đ­ợc 3 tầng văn hoá và phát hiện nhiều hiện vật giá trị: Đồ gốm: Bát, đĩa, âu, bình dạng ống nhổ,… đồ sành: mảnh lon, vò,…vật liệu kiến trúc: gạch, ngói mũi hài,… than tro, nền bếp đất nung, mảnh bao nung, con kê, tiền đồng, đá cuội, đá ráp…Căn cứ vào kết quả khảo cổ học những năm tr­ước tại di chỉ, kết hợp t­ư liệu điền dã về lịch sử khu di tích, vị trí địa lý của di chỉ và loại hình, số l­ợng lớn di vật tìm thấy tại hố khai quật, các chuyên gia khảo cổ đã nhận định: các di vật trên hầu hết có niên đại thời Trần và Xóm Hống là một trung tâm sản xuất đồ gốm tồn tại từ thế kỷ XIII đến XVI.
          b) Di tích Mộ Cổ - khu di tích Kiếp Bạc.
Tháng 3/2000, Trên sườn núi Trán Rồng, thuộc khu di tích Kiếp Bạc đã phát hiện một ngôi mộ. Mộ kết cấu trong quan, ngoài quách, xung quanh xây gạch (40cmx 40cm x 5cm), gồm: Quách là một chum đất nung màu đỏ xẫm, trong chum đất nung là thạp gốm hoa nâu. Trong thạp là cốt hoả táng và 2 di vật là g­ương đồng và khánh bạc đ­ược chạm trổ tinh xảo. Căn cứ vào đặc điểm của ngôi mộ, hoạ tiết trang trí và các hiện vật tìm thấy trong thạp, các chuyên gia khảo cổ nhận định đây là ngôi mộ cổ, quý hiếm, chủ nhân là một phụ nữ quyền quý thời Trần, niên đại thế kỷ 13.
    
   
                 Mộ cổ thời Trần (TK-XIII), phát hiện tại sườn núi Rồng sau đền Kiếp Bạc, tháng 03/2000
 
          c) Di tích Sinh Từ - khu di tích Kiếp Bạc.
 Năm 2000, Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam đã tổ chức thám sát khảo cổ học tại di tích Sinh Từ (Từ Cũ). Nơi đây trong sử sách, nhân dân vẫn nhắc nhớ về phủ đệ cũ và vị trí ngôi đền thờ H­ưng Đạo Đại Vư­ơng khi Ngư­ời còn sống đã đ­ược vua Trần cho xây dựng. T­ương truyền, sau khi H­ưng Đạo Đại Vư­ơng qua đời, nhân dân đã chuyển nguyên vật liệu của Sinh Từ về dựng đền Kiếp Bạc hiện nay. Tại di tích, mở 3 hố thám sát với diện tích là 23,3m2, kết quả đã phát hiện đư­ợc dấu tích kiến trúc của 3 cấp nền, 21 đoạn ống cống thoát n­ước bằng đất nung hình trụ (đư­ờng kính 20cm) nối liền nhau và vết tích bờ kè bằng đá vôi, đá cuội. Ngoài ra, còn tìm thấy nhiều di vật đồ gốm. đất nung, thóc cháy…có niên đại thế kỷ 13, 14. Theo nhận định ban đầu của các chuyên gia khảo cổ thì Sinh Từ nằm ở đoạn cuối của sông Vang, di tích nh­ư một ốc đảo xung quanh là n­ước. Khi đó, bờ kè đá vôi, đá cuội có chức năng ngăn n­ước giữa sông Vang với các công trình kiến trúc của phủ đệ Sinh Từ.
d)  Di tích Hố Thóc
Hố Thóc nằm trong thung lũng lòng chảo, xung quanh có núi bao bọc, thuộc địa phận xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, cách đền Kiếp Bạc 2,5km về phía đông nam.Tương truyền, đây là kho quân lương của đại bản doanh Vạn Kiếp do Thiên Thành Công chúa - phu nhân Trần Hưng Đạo Đại Vương phụ trách.
          Năm 2000, Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam tổ chức mở 3 hố khai quật trong khu vực Hố Thóc đã tìm thấy nhiều dấu vết: tầng đất có mầu đen, nhiều hiện vật gốm, vũ khí, đặc biệt là thóc cháy… Theo nhận định ban đầu, các chuyên gia khảo cổ học cho rằng tại di tích Hố Thóc có sự tồn tại của một dấu tích thời Trần có liên quan đến lương thảo.
 
 
      
         Dấu tích thóc cháy tại Hố Thóc , khai quật tháng 06/2000
          e) Viên Lăng:
Viên Lăng nằm ở gò đất hình tròn cách đền Kiếp Bạc 300 về phía Đông Nam. Đây là điểm đắc địa, được xem như là viên ngọc của khu vực. Tương truyền, phần mộ của Trần Hưng Đạo Đại Vương được táng tại đây. Đến thời Nguyễn, tổng đốc Hải Dương Lê Hoan đã chọn vị trí này để dựng đền thờ mình (đền Thượng). Về sau một số hộ dân đã dựng nhà ở tại khu vực này. Năm 2000, các nhà khảo cổ học của Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã tiến hành khai quật, phát hiện dấu tích nhà ở của dân và tìm thấy rải rác mảnh sành thời Trần.
g) Hố Chân Bia:
Hố chân bia nằm ở chân núi Trán Rồng, cách đền Kiếp Bạc 400m về phía Đông. Năm 2000,Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã tổ chức thám sát, khai quật khảo cổ học tại khu vực này nhằm tìm kiếm dấu tích tấm bia Thần tích Sinh Từ, do vua Trần Thánh Tông tự soạn ca ngợi công đức Hưng Đạo Đại Vương, khi Người còn sống. Kết quả đã phát hiện được một số gạch 40cm x 40 cm x 5cm trang trí hoa dây ở giữa, một bậc tam cấp ớ phía tây bắc khu đất.
h) Ao Cháo:
          Tương truyền đây là nơi dưỡng thương, trị bệnh cho quân sỹ của đại bản doanh Trần Hưng Đạo Đại Vương. Tại đây, người dân đã phát hiện nhiều viên gạch 40cm x 40cm x 5xm ở phía trong bờ kè và nhiều lọ gốm kiểu nậm rượu. Phỏng đoán ban đầu, đây có thể là đồ đựng thuốc chữa bệnh.
          2. Khu di tích Côn Sơn:
a) Khu vực tam quan chùa và khu vực đỉnh núi Kỳ Lân:
Từ năm  1992 -1994, Bảo tàng tỉnh Hải Hưng đã tiến hành tổ chức thám sát, khai quật khảo cổ học tại một số điểm di tích, như: khu vực tam quan chùa Côn Sơn, khu vực đỉnh núi Kỳ Lân (phục vụ dự án xây dựng nhà bia ở khu vực Bàn cờ tiên).
Kết quả: Đã phát hiện nhiều mảnh gạch, ngói, gốm thời Trần.
b)Khu Vườn tháp:
Năm 2000, Bảo tàng Hải Dương phối hợp Ban quản lý dích tích Côn Sơn - Kiếp Bạc mở hố khai quật tại khu vực vườn tháp sau chùa, cách nhà tổ 50m. Kết quả đã thu được hơn 2000 hiện vật, gồm: Ngói mũi hài đơn, mũi hài kép, phù điêu hình rồng bằng đá, con giống đất nung, dấu vết các vỉa đá kè… Căn cứ thư tịch cổ, dấu tích kiến trúc, di vật tìm thấy, các nhà khảo cổ nhận định rất có thể đây là một tòa Cửu phẩm liên hoa thời Trần của chùa Côn Sơn.
c) Khu vực Thanh Hư Động ( Đền thờ Trần Nguyên Đán)
Năm 2000, Bảo tàng tỉnh Hải Dương tiếp tục quay trở lại khu vực Thanh Hư động, mở 3 hố khai quật khảo cổ học nhằm xác định quy mô của công trình kiến trúc. Kết quả đã xuất lộ 1 nền nhà được làm theo kiểu giật cấp   ( nền cấp 1: 29,0m x 9m; cấp 2: 29m x 7.5m; cấp 3: 1sân dài 29m x 11,2m) và nhiều gạch ngói, đinh thuyền… Các nhà khảo cổ cho rằng khu vực này là trung tâm của Thanh Hư Động và là đền thờ của quan tư đồ trần Nguyên Đán sau khi ông qua đời.
     
     Khai quật tại Thanh Hư Động, năm 2000
 
          d) Cầu Thấu Ngọc
Tại hố khai quật khu vực cầu thấu ngọc, các chuyên gia khảo cổ đã tìm thấy nhiều mảnh ngói các loại, trong đó phần lớn là ngói mũi nhọn, có móc thời Trần, Lê. Căn cứ các nguồn tư liệu, kết quả khai quật cho thấy cầu Thấu Ngọc là bộ phận quan trọng của Thanh Hư Động.
Ngoài ra, trong giai đoạn còn có một số cuộc thám sát, khai quật khảo cổ học khu vực nền nhà cũ của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi và Chùa Côn Sơn.
          III. Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2006.
          1. Khu di tích Kiếp Bạc.
a) Di tích Nam Tào, Bắc Đẩu:
 Từ tháng 12/2005 đến tháng 1/2006, Viện Khảo cổ Việt Nam phối kết hợp Ban Quản lý di tích (QLDT) Côn Sơn - Kiếp Bạc tổ chức thám sát, khai quật khảo cổ học tại di tích Nam Tào, Bắc Đẩu. Tại di tích Bắc Đẩu mở một hố thám sát với diện tích 6m2, địa tầng hố thám sát biểu hiện sự xáo trộn rõ rệt từ 15 - 20cm là gạch, ngói, lớp đất d­ưới khá thuần nhất của đất đồi. Dấu tích kiến trúc cổ không còn, đã bị san lấp làm mặt bằng xây dựng đồn, bốt của Pháp.
b) Di tích Nam Tào:
Cùng đợt khai quật nói trên (12/2005 - 1/2006), tại di tích Nam Tào, ba hố khai quật đã đ­ược mở trên nền kiến trúc cũ của toà Tiền tế. Kết quả đã tìm thấy dải móng hẹp, chạy dài theo mặt bằng kiến trúc cổ và dấu vết nền móng của một số công trình phụ cận nh­ư: bể n­ớc, nhà chè, gác chuông… Đặc biệt, tại đây đã phát hiện một tấm bia đá: Vạn Dư­ợc công đức bi ký, dựng năm Bảo Đại thứ 4 (1929) và nhiều hiện vật gốm, sành, sứ khác. Căn cứ vào kỹ thuật xây dựng móng, kiểu dáng, chất liệu di vật, nội dung bi ký… các chuyên gia khảo cổ nhận định di tích Nam Tào có niên đại sớm nhất vào thế kỷ XIII, XIV và đ­ược trùng tu xây dựng lại ở thế kỷ XVIII, thế kỷ XIX, tạo nên một quần thể di tích để tôn vinh Đức Thánh Hư­ng Đạo Đại Vương.
Bia: Vạn Dược công đức
                              
 
 
          2. Khu di tích Côn Sơn
          Tả hữu hành lang cổ và phía sau tổ đường chùa Côn Sơn:
Tháng 12/ 2005, Viện Khảo cổ học Việt Nam kết hợp với Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc tổ chức mở 3 hố khai quật tại tả, hữu dãy hành lang cổ và phía sau nhà tổ chùa Côn Sơn.
Kết quả ban đầu cho thấy dấu vết kiến trúc khá rõ:
- Ở phía sau nhà tổ, gồm nền móng kiến trúc chạy dài đ­ược kè đá chèn lẫn gạch, các nhà khảo cổ cho rằng đây rất có thể là móng kiến trúc của nhà hậu đ­ường chùa Côn Sơn. Tại hố khai quật ở tả, hữu hành lang đã phát hiện các tầng văn hoá ở thế kỷ XVIII, XIX (độ sâu 0,7m đến 0,3m ), tầng văn hoá ở thế kỷ XVI, XVII (ở độ sâu 1,1m đến 0,8m), tầng văn hoá thế kỷ XIII, XV (ở độ sâu 1,8m đến 1,0m), thu đ­ợc trên 3000 hiện vật, bao gồm gạch, ngói, trang trí kiến trúc, đồ gốm sứ… Đặc biệt là đã phát hiện hai lớp nền móng kiến trúc cũ của tả hữu hành lang chùa Côn Sơn.
- Lớp nền móng thứ nhất của dãy hành lang đ­ược xây dựng ở thế kỷ XIV.
- Lớp nền móng thứ hai dãy hành lang chùa Côn Sơn đ­ược trùng tu xây dựng ở thế kỷ XVI - XVII.    
          
Nền móng kiến trúc nhà hậu Đường, đầu rồng bằng đất nung -  chùa Côn Sơn,  tháng 12/2005
           
 
Hiện vật khai quật hố 1, lớp1  phát hiện tại Hành lang chùa Côn Sơn,tháng 12/2005
         
 Hiện vật khai quật hố 1, lớp2, phát hiện  tại Hành lang chùa Côn Sơn tháng 12/2005
 
Ngoài ra, hệ thống di vật tìm thấy rất phong phú, đa dạng như : Gạch, ngói, bát, đĩa, tước, lon sành, bình, lọ, bát hương…được xác định có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, đặc biệt có nhiều hiện vật thời Lê (thế kỷ XV, XVI), điều đó phù hợp với văn bia chùa và các thư tịch của chùa Côn Sơn ghi về  lịch sử chùa Côn Sơn có từ thế kỷ XIII, XIV, được trùng tu, tôn tạo lớn vào thế kỷ XV và được mở rộng vào thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII.

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012