TRẦN NGUYÊN ĐÁN (1325? - 1390)

Trần Nguyên Đán hiệu là Băng Hồ, sinh năm Ất Sửu (1325). Quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam hạ, nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Cha là Nhập nội Thái bảo Uy Túc Hầu Trần Văn Bích, là cháu 4 đời của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, cháu 5 đời vua Trần Thái Tông.

Trần Nguyên Đán hiệu là Băng Hồ, sinh năm Ất Sửu (1325). Quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam hạ, nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Cha là Nhập nội Thái bảo Uy Túc Hầu Trần Văn Bích, là cháu 4 đời của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, cháu 5 đời vua Trần Thái Tông.

Là con một gia đình quý tộc thuộc dòng dõi vua Trần, từ nhỏ, đã thông minh hơn đời, giàu lòng nhân ái, đức tính khiêm nhường, cầu thị, luôn kiên trì học tập, rèn luyện nên Trần Nguyên Đán sớm trở thành một tài năng lớn, một tấm gương về phẩm chất đạo đức, giàu lòng vị tha, có hoài bão lớn. Đời vua Trần Dụ Tông (1341 -1369), ông được bổ nhiệm chức Đại phu Ngự sử đài, chuyên việc can gián. Ông luôn nghiêm khắc sửa mình, không màng danh lợi, tận tâm với công việc. Năm 1369, ông có công dẹp loạn Dương Nhật Lễ, khôi phục cơ nghiệp nhà Trần.

Năm 1371, Trần Nguyên Đán được phong chức Tư đồ phụ chính, tước Chương túc Quốc thượng hầu kiêm quân quản trấn Quảng Oai, phụ trách công việc bang giao với các nước. Ở cương vị nào, ông đều dành hết tâm huyết, tài năng, trí tuệ phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Trong "Chuyện cũ cụ Băng Hồ", Nguyễn Trẫi đã viết về ông ngoại mình như sau: "Giữ vững cơn lay động, gỡ mối sau buổi rối ren, trong khoảng mấy năm nước yên lặng, người ta khen là hiền tướng, dù trẻ con, lính tráng, chẳng ai là không biết tiếng"

Bên cạnh đóng góp to lớn về mặt chính trị, quân sự, ngoại giao, Trần Nguyên Đán còn là một nhà văn hoá, nhà thơ lớn đời hậu Trần. ông từng đọc đến "Tam vạn quyển thư", thông hiểu kinh sách, nghiên cứu sâu sắc các học thuyết Nho, Phật, Lão. Ông là nhà lịch pháp lớn đầu tiên của nước ta quan tâm nghiên cứu nông lịch. Trước tác của ông có: "Bách thế thông khảo", "Băng Hồ ngọc hác tập"…hiện còn 51 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục”.

          Khi triều Trần suy tàn, Hồ Quý Ly tiến cử nhiều ngoại thích vào triều, ông hết sức can ngăn (vì biết mưu đồ chuẩn bị thoán đoạt của hộ Hồ), nhưng thượng hoàng Nghệ Tông không nghe, năm 1385 ông xin về nghỉ ở núi Côn Sơn, sống ẩn dật, vui với trúc thông, thơ phú. Tuy vậy, ông vẫn lo việc nước, biểu lộ qua nhiều bài thơ và những câu ngâm vịnh thấm đượm niềm cảm thông sâu sắc với cuộc sống vất vả của nhân dân. Tại Côn Sơn, trước đó, Trần Nguyên Đán đã cho dựng động Thanh Hư, cầu Thấu Ngọc; thời gian ở đây, ông cho đắp đàn Tinh Đẩu tế thần sao Bắc Đẩu, cầu cho quốc thái, dân an, và bỏ ra nhiều công sức mở mang chùa Hun, cùng toàn bộ khu danh thắng Côn Sơn. Đánh giá về Trần Nguyên Đán, trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: “Ông là người hiền lành nho nhã, có phong độ bậc quân tử thời xưa… đáng là người hiền”.

          Ngày 14 tháng 11 năm Canh Ngọ (1390), Tư đồ Trần Nguyên Đán mất tại Côn Sơn, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần đã sắc chỉ cho dân địa phương lập đền thờ ông trong khu vực động Thanh Hư. Trải qua bao cơn binh lửa, nắng mưa, đền thờ xưa không còn.

          Để tưởng nhớ một danh nhân trong lịch sử dân tộc và là người có công lao lớn trong việc đào tạo nên tài năng nhân cách vĩ đại của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, cũng như công lao trong việc mở rộng thắng cảnh Côn Sơn, năm 2005 đền thờ Tư đồ Trần Nguyên Đán đã được phục dựng. Ngày nay, đến thăm Thanh Hư động vào những buổi chiều tĩnh mịch, người ta như thấy Băng Hồ tướng công và Nguyễn Trãi, người cháu ngoại yêu quý của Người phảng phất đâu đây trong gió ngàn, mây núi.

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012