HUYỀN QUANG (1254 - 1334)

Thiền sư Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, quê ở xã Vạn Ty huyện Gia Định thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ, dòng dõi quan lại có công dẹp giặc Chiêm Thành sang ta quấy nhiễu, được nhà Trần bổ làm quan nhưng không nhận, thích sống cảnh điền viên. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức.

Thiền sư Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, quê ở xã Vạn Ty huyện Gia Định thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ, dòng dõi quan lại có công dẹp giặc Chiêm Thành sang ta quấy nhiễu, được nhà Trần bổ làm quan nhưng không nhận, thích sống cảnh điền viên. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức.

          Thuở nhỏ Đạo Tái dung nhan kỳ lạ, nhưng có chí hướng và học hành rất thông minh. Năm 19 tuổi thi hương, năm sau thi hội, đỗ đầu. Lúc còn niên thiếu cha mẹ có dạm hỏi vợ cho Lý Đạo Tái mấy nơi, đều bị từ chối. Nhưng khi thi đỗ thì các nhà quyền quý nhắn gọi gả con. Vua Trần cũng muốn gả Công chúa cho, nhưng ông đều khước từ. Ông làm việc ở Viện Hàn lâm, soạn thảo văn thư, giao tiếp với sứ Tàu, đối đáp trôi chảy rất được nể phục.

          Một lần, ông theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phượng Nhãn, nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh, từ đó ông tâm đắc với đạo phật, dâng biểu từ quan xin xuất gia tu hành, được vua thuận tình.

          Năm 1305, ông xuất gia thụ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được ban pháp hiệu là Huyền Quang Tôn Giả.

          Niên hiệu Hưng Long thứ 17 (1309), Tôn Giả theo hầu Pháp Loa theo lời phó chúc của Điều Ngự. Tôn Giả vâng mệnh trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Giáo lý của Tôn Giả uyên bác, sâu rộng, nên các tăng ni theo học rất đông. Điều Ngự Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường đi du ngoạn khắp nước, Huyền Quang thường lên toà giảng kinh để thu nạp đệ tử. Nhà vua xuống chiếu yêu cầu Huyền Quang soạn các sách giảng kinh, sách giáo khoa Phật học, cho khắc in nhiều bản, truyền bá trong dân. Vua Trần khen: “Các sách vở nói về đạo phật do chính Huyền Quang viết ra thì không nên thêm bớt một chữ nào”.

Tôn Giả thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển chư phẩm kinh, công văn…Những khoa giáo trong nhà Thiền đều phải qua tay cả.

          Ngày mồng 5 tháng 1 năm Quý Sửu (1313), vua Anh Tông mời Huyền Quang Tôn Giả về chùa Báo Ân ở kinh thành Thăng Long để giảng kinh Lăng Nghiêm.

          Năm 1330, tại chùa Quỳnh Lâm, Pháp Loa lấy áo cà sa của Điều Ngự Trần Nhân Tông cùng với bài kệ tả tâm trao cho Huyền Quang Tôn Giả, thừa kế nối dòng thiền phái Phật giáo Trúc Lâm, là vị tổ thứ ba.

          Huyền Quang Tôn Giả trụ trì chùa Côn Sơn, mở mang cảnh chùa, lập đài Cửu phẩm liên hoa, mở rộng tăng viện Kỳ Lân…ông viên tịch tại chùa Côn Sơn ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông cấp ruộng để thờ cúng, cấp 10 lạng vàng, sai đệ tử tăng ni xây tháp mộ phía chân núi sau chùa, ban thuỵ là Trúc Lâm Thiền sư Đệ Tam Đại.

          Ngoài soạn các kinh sách như: "Thích khoa giáo", "Chư phẩm kinh", "Công văn tập"… Huyền Quang Tôn Giả sáng tác nhiều bài kệ và thơ thể hiện tình cảm gắn bó với thiên nhiên, với đạo và tư tưởng triết lý Thiền sâu sắc. Ông để lại tập thơ bằng chữ hán gồm 23 bài và một bài phú.

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012