PHÁP LOA (1284 - 1330)

Thiền sư Pháp Loa tên tục là Đồng Kiên Cương, sinh năm 1284 tại thôn Đồng Hoà, hương Cửu La (nay là thôn Đông Pháp thuộc xã Ái Quốc, Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tương truyền, từ thời trẻ, Đồng Kiên Cương đã mộ đạo, có chí hướng tu hành, không dùng thức ăn có mùi hôi tanh, không nói lời thô tục.

Thiền sư Pháp Loa tên tục là Đồng Kiên Cương, sinh năm 1284 tại thôn Đồng Hoà, hương Cửu La (nay là thôn Đông Pháp thuộc xã Ái Quốc, Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tương truyền, từ thời trẻ, Đồng Kiên Cương đã mộ đạo, có chí hướng tu hành, không dùng thức ăn có mùi hôi tanh, không nói lời thô tục.

          Năm 1304, Điều Ngự Trần Nhân Tông đi chu du thuyết pháp qua hương Cửu La, Đồng Kiên Cương đến bái yết và xin được xuất gia tu hành, được Điều Ngự nhận làm đệ tử và ban cho tên là Thiện Lai.

          Năm Hưng Long thứ 13 (1305), Điều Ngự dẫn sư lên liêu Kỳ Lân cho thụ giới Tỳ kheo và giới Bồ Tát rồi ban cho pháp hiệu là Pháp Loa Tôn Giả.

          Tại am Ngoạ Vân ở Yên Tử, Điều Ngự  lấy y bát trao cho Pháp Loa.

          Năm Hưng Long thứ 15 (1307), Pháp Loa đứng đầu trong các thị giả của Điều Ngự. Lúc này ông 24 tuổi.

          Ngày 1 tháng giêng năm Hưng Long thứ 16 (1308), tại chùa Siêu Loại (Hà Bắc) Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông trao quyền nối dòng thừa kế cho Pháp Loa. Ông trở thành vị tổ thứ hai của Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm, khi mới 25 tuổi. Cũng năm đó, Quốc sư vâng mệnh Điều Ngự làm lễ nối pháp trụ trì chùa Cam Lồ, chùa Siêu loại và làm chủ sơn môn Yên Tử.

          Tháng 11 năm 1308, Điều Ngự tịch, Quốc sư phụng mệnh cung nghinh xá lỵ về kinh đô. Trở về núi, Ngài soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch thất, làm thành sách "Thạch thất mị ngữ".

          Năm Hưng Long thứ 19 (1311), Quốc sư phụng chiếu tiếp tục khắc bản kinh Đại Tạng giảng truyền Đăng Lục tại chùa Siêu Loại.

          Năm Hưng Long thứ 21 (1313), Quốc sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang định chức cho tăng đồ. Chúng tăng từ đây mới có sổ bộ, chính Quốc sư là người cầm sổ bộ ấy. Từ đó về sau thành lệ cứ 3 năm sư độ tăng 1 lần (làm sổ bộ, định chức tăng đồ, mỗi lần hơn nghìn vị tăng). Những hàng Thái hậu, Công chúa, Vương công, quý khanh đều thỉnh Quốc sư truyền giới xuất gia Bồ Tát, cho đến vua Trần Anh Tông cũng xem như đệ tử của ngài. Họ đua nhau cúng đất, vàng, tiền để Quốc sư lập chùa, đúc tượng phật, in kinh…

          Năm đầu Khai Hựu (1329), đời Trần Hiến Tông, Quốc sư mở rộng thêm cảnh Côn Sơn và Thanh Mai, làm thành danh lam thắng cảnh.

          Hơn hai mươi năm chủ trì thiền phái Trúc Lâm, Quốc sư kiểm lại những công việc Phật sự: Đúc tượng Phật kể cả lớn và nhỏ có hơn 1300 pho, tạo đại già lam được 2 ngôi, xây tháp được 5 ngọn, lập tăng đường hơn 200 sở, độ tăng và ni hơn 15.000 người, in được một bộ kinh Đại Tạng, đệ tử đắc pháp hơn 3000 người, thành Đại pháp sư có 6 vị.

          Đương thời, Pháp Loa biên soạn nhiều sách Phật học như "Tham thiền chỉ yếu", "Pháp nguyện văn". Quốc sư còn viết "Đoạn sách lục", một bản niên phả khá chi tiết về cuộc đời và hành trạng của Điều Ngự Đầu Đà Trần Nhân Tông. Ngoài ra, ông cũng chú giải một số bộ kinh như "Kim cương đại trường đà la ni kinh", "Tán Pháp hoa kinh khoa sớ", "Bát nhã đa tâm kinh".... Rất tiếc, phần lớn trước tác Phật học của Quốc sư đến nay đều đã thất lạc, chỉ còn một phần "Đoạn sách lục" và một phần sách "Tham thiền chỉ yếu" là còn giữ được và được in vào bộ sách "Tam tổ thực lực".

          Năm Khai Hựu thứ 2 (1330) ngày 5/2, Quốc sư phát bệnh, trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm tại An Lạc tàng viện. Đến ngày mồng 1 tháng 3 Quốc sư an nhiên thị tịch, thọ 47 tuổi. Đệ tử theo lời phó chúc của Quốc sư đem xá lị lên nhập tháp tại núi Thanh Mai. Ngày 11 tháng 3, Thái Thượng Hoàng Trần Minh Tông thương tiếc bậc Quốc sư đã về Thanh Mai kính viếng và đã ngự bút ban hiệu cho Đệ Nhị Tổ là Tịnh Trí Tôn Giả, tên tháp là "Viên Thông Bảo Tháp", tặng 10 lạng vàng để xây tháp.

Thứ 2, Ngày 2/4/2012