VAI TRÒ CỦA ĐỨC THÁNH TRẦN TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH QUA LỄ HỘI ĐỀN KIẾP BẠC (19/1/2015)

Trong hệ thống nhân thần được thờ tại Việt Nam, không có vị thần nào được nhiều nơi thờ như Đức Thánh Trần, nhưng nơi được coi là thiêng liêng nhất đó là đền Kiếp Bạc. Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng 8 (âm lịch) “tháng Tám giỗ cha” nhân dân ta ở mọi miền đất nước vẫn luôn hướng về đền Kiếp Bạc như hướng về nguồn cội của mình

        Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228? - 1300) là con của An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông). Trong trí tưởng tượng của dân gian đã thêu dệt cho Ngài một lý lịch đượm màu huyền bí, siêu nhiên. Tương truyền: Đoan Túc phu nhân Lê Thị úy Nguyệt là người hiền thục, say mê tam giáo. Một đêm, phu nhân nằm mơ: Nước nhà sắp có đại loạn, và thấy một vị thần râu tóc bạc phơ tay cầm hốt ngọc đề “sắc giáng”; xưng là Thái Bạch Kim Tinh vâng mệnh Ngọc Hoàng thượng đế cho Thanh y đồng tử (cậu bé mặc quần áo xanh) giáng sinh làm con để trừ giặc cứu nước. Thế rồi bà mang thai lâu hơn người thường và sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô tuấn tú, được đặt tên là Quốc Tuấn.

          Mới 6 tuổi đã biết bày Bát Trận Đồ và thông hiểu kinh sách. Ngoài tài năng bẩm sinh, Ông lại được sự chăm sóc của người cha, được cha mời thầy giỏi để đào tạo thành người tài kiêm văn võ.

          Vào thế kỷ thứ XIII, là lúc những đoàn kỵ binh Mông Cổ đang ồ ạt kéo sang xâm lược các nước Phương Đông và Phương Tây; gieo rắc kinh hoàng và chết chóc xuống những vùng xa hơn ở Châu âu và Châu á. Đại Việt cũng nằm trong âm mưu xâm lược đó.

          Suốt 30 năm (1258 - 1288), nhân dân Đại Việt tổ chức 3 lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông. Đặc biệt, kháng chiến lần thứ 2 (1285) với 50 vạn quân và kháng chiến lần 3 (1288) với 30 vạn quân xâm lược dưới quyền chỉ huy của Trấn Nam Vương Thoát Hoan. Nhân dân Đại Việt đứng trước một cuộc đối đầu lịch sử “nên hoà hay nên đánh?”. Trong hoàn cảnh ấy, Trần Hưng Đạo nổi lên như một trụ cột của triều đình. Câu trả lời “nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã!”; - Có tác dụng củng cố niềm tin cho vua tôi nhà Trần. Để xoá bỏ hiềm khích, Ông đã tự tay dội nước tắm cho thái sư Trần Quang Khải; Để xoá bỏ nghi ngờ, Ông bỏ gậy bịt sắt nhọn (1) với tư cách là người làm tướng, Ông đã quy tụ xung quanh mình những tướng lĩnh tài ba và tận trung như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô…Là vị tướng có tài  dụng binh như thần: “lấy đoản chế trường”, “tránh mạnh đánh yếu”; Như Trương Phổ đời Minh đã nhận xét: “Biết tránh thế hăng hái lúc ban mai, đánh khí tàn lụi lúc buổi chiều”. Xây dựng một đội quân “tình nghĩa cha con” với phương châm “quân cốt tinh không cốt nhiều”, Ông đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ : “Hịch tướng sĩ”, “Binh thư yếu lược”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”. Ở Ông hội đủ những phẩm chất : Đại nhân, đại nghĩa, đại trí, đại dũng.

          Đất nước thanh bình, Ông về sống tại thái ấp Vạn Kiếp. Vua Trần Thánh Tông làm bài văn bia gọi là Sinh Bia sánh Ông với bậc thượng phụ và cho xây Sinh Từ để thờ sống Ông.

          Ngày 20 tháng 8 (âm lịch) năm 1300, Hưng Đạo Đại Vương mất tại tư dinh Vạn Kiếp. Vua Trần phong: Thái sư thượng phụ, thượng quốc công Bình Bắc đại nguyên suý, võ liệt hồng huân, Quốc công Tiết chế Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương, và lập Đền thờ Ông trên nền vương phủ xưa gọi là Đền Kiếp Bạc, hai bên có 2 đền Nam Tào và Bắc Đẩu chầu vào.

          Trong tâm thức dân gian, nhân dân tôn Ngài là Đức Thánh Trần và đồng nhất Ngài với Ngọc  Hoàng thượng đế; Tạo nên một dòng đạo Nội mà Đức Thánh Trần là giáo chủ.

          Như một điểm hội tụ “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, cha là Đức Thánh Trần và mẹ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh (một trong “tứ bất tử” trong hệ thống thần linh của Việt Nam) - một cặp cha mẹ không hôn phối được người Việt tôn sùng. “Sinh vi tướng tử vi thần”, sống là tướng giỏi, chết là phúc thần, vì vậy vào ngày hội đền Kiếp Bạc, vai trò của Đức Thánh Trần có ảnh hưởng sâu đậm tới đời sống tâm linh của người Việt trên nhiều lĩnh vực :

          1. Một nhu cầu được hầu Thánh (hầu bóng, hầu đồng, lên đồng) và thưởng thức hầu Thánh:

          Từ xưa, hội đền Kiếp Bạc không thể thiếu nghi lễ hầu Thánh. Để đưa hoạt động này đi đúng với “thuần phong, mỹ tục”, lần đầu tiên (17.8 âm lịch năm 2006) liên hoan diễn xướng hầu Thánh ở Đền Kiếp Bạc được Viện Văn hoá Thông tin và Sở Văn hoá Thông tin Hải Dương thử nghiệm đã thu hút được sự chú ý của nhân dân. Liên hoan đã thu hút đông đảo sự quan tâm của du khách thập phương. Hầu Thánh là một loại hình múa hát thiêng trong một không gian thiêng liêng có  sức hấp dẫn kỳ lạ. Người diễn - lên đồng thâu đêm, người xem cũng thức thâu đêm không biết mệt. Hầu bóng - một nghi lễ tôn giáo đã ăn sâu vào tâm thức dân gian.       Trong quá trình phát triển của lịch sử, lúc đậm lúc nhạt nhưng diễn xướng hầu Thánh bao giờ cũng được nhân dân đón nhận một cách nhiệt tình; Cho dù đi xem hầu Thánh để được xem múa hát để được ban một vài ít lộc, một vài đồng lẻ nhưng đối với nhân dân rất thiêng liêng “Một miếng lộc Thánh bằng một gánh lộc trần” hay “Thánh một cân, trần một yến”…

          Trong các giá hầu Thánh ở Đền Kiếp Bạc, ngoài các giá hầu Đức Thánh Trần, còn có “văn chầu nhị vị công chúa”, “văn ông đệ tam cửa Suốt” ( con trai thứ 3 của Hưng Đạo Vương), “ văn thánh đức Phạm” và các giá chầu ông, chầu bà, cô, cậu.

          Trong các bài hát chầu văn ấy, vẫn thấy nổi lên những lời ca ca ngợi các vị thần thánh. Chẳng hạn trong giá hầu “Văn thánh Trần triều” có những câu ca tụng Đức Thánh :

“Dung nghi tướng mạo đường đường

Khuê trương vĩ vọng đống lương đại tài

Võ thao lược hùng oai quán cố

Văn kinh luân khí độ Việt nhân” (2).

          Cùng với chiến công :

“Bạch Đằng nhất trận thuỷ công

Tặc nguyên đại phá huyết hồng mãn giang” (3).

          Để cho cửa Thánh oai nghiêm, trong các hoạt động của đạo Thanh Đồng, có những hoạt động mang đầy tính ma thuật như : Xiên lình vào má, rạch lưỡi phun lửa, xỏ chân vào lưỡi cầy nung đỏ, ma thuật chữa bệnh như : dùng roi dâu đánh vào người, đánh áo đau người…Người xưa coi việc đó là những phép thuật cao siêu, thì ngày nay chúng ta đã giải thích được hiện tượng “phi thường” này một cách khoa học.

          2. Tâm linh trong chữa bệnh, trừ tà sát quỷ :

          Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú có viết : “Trong nước hễ có đàn bà bị Bá Linh ám ảnh, gọi là ma Phạm Nhan, người ta thường đem chiếu đổi lấy chiếu của Đền về trải giường cho bệnh nhân nằm thì khỏi ngay” (4) Trong ngày hội, những người đàn bà vô sinh, hiếm muộn hoặc là mắc chứng bệnh đàn bà…người ta đến Đền cúng bái, thầy cúng (có thể thầy phù thuỷ) dùng roi dâu đánh vào người đàn bà, người ấy lăn lộn thậm chí lăn xuống sông thì coi như tà ma đã được trừ. Xuất phát từ chuyện Đại Vương chém Phạm Nhan. Và ở khúc sông Lục Đầu gần núi Dược Sơn có một dải đất dài nổi lên hình thanh gươm. Tương truyền đấy là thanh thần kiếm của Đức Thánh Trần sau khi chém Phạm Nhan, Ngài thả thanh kiếm xuống dòng sông nhờ nướcLục Đầu Giang rửa sạch tanh hôi và cũng ngầm ý không bao giờ phải dùng đến thanh gươm nữa. Vì vậy, từ thời xưa trong lễ hội còn có nghi lễ chém Phạm Nhan. Trong bài ca diễn xướng có những câu :

“Đầu này vừa chém cho rơi

Đầu kia ở cổ đã chồi mọc ra

Thế mới biết yêu ma quái lạ,

Dã Tượng về tâu với Đại Vương

Ngài thân ra chốn pháp trường

Bá Linh (5)trông thấy mặt nhường tái xanh

Hưng Đạo Vương tuốt thanh thần kiếm

Đưa gươm hầu thử chém xem sao

Ai ngờ Ngài mới khai đao

Đầu kia ở cổ đã nhào chết tươi”.

          Người ta tin rằng với uy danh của Đức Thánh Trần trừ diệt được Phạm Nhan thì mọi ma tà đều được trừ diệt. Thời phong kiến “mỗi khi có giặc, làm lễ cáo ở Đền, nếu kiếm trong hòm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng trận” (6).

          Ngoài ra trong hội đền Kiếp Bạc nhân dân còn đến Đền mua thuốc ở Nam Tào ( Dược Sơn) về uống rất là hiệu nghiệm.

          3. Tâm linh trong việc cầu phúc, tránh hoạ:

          Nhân dân có tục lệ đầu năm làm lễ cầu an, cuối năm lễ tạ, hoặc những năm hạn hán người dân còn đến Đền tế đảo cầu mưa. Từ xưa đến nay tục ấy vẫn còn. Người đến đền Kiếp Bạc mang theo niềm ước vọng của mình : cầu được bình an học hành hiển đạt làm ăn phát tài, tránh mọi điều xui xẻo và phổ biến nhất là việc cầu con. Những đứa trẻ ra đời được gọi là con cầu tự. Tương truyền người đến cầu con thì đến Đền “ vào cửa cha, ra cửa mẹ”; (dưới pho tượng đồng của Đức Thánh Trần và Đức Quốc Mẫu có cửa chui qua) hay xin một ít đất ở mô đất cao sau Đền thì thể nào cũng sẽ được thoả nguyện. Ngoài việc cầu con trong dân gian nhà nào “hữu sinh vô dưỡng” thì họ làm lễ bán khoán vào Đền. Đến năm đứa trẻ đủ 12 tuổi thì gia đình biện lễ chuộc con về. Và họ tin rằng làm như thế đứa trẻ với bình yên vô sự.

          4. Tâm linh trong việc xin ấn :

          Ở đền Kiếp Bạc hiện có 4 ấn bằng đồng. Các cụ già địa phương thì cho rằng những ấn này có từ khi mới lập Đền. Theo lệ cổ, trước ngày đại kỵ của Ngài (ngày giỗ Đức Thánh Trần) chính quyền sở tại cùng với thủ từ làm lễ đóng ấn vào một tấm lụa màu vàng để đến hội ban cho thập phương.

          - Ấn thứ nhất : ấn hình vuông, kích thước 10cm x 10cm trên ấn có khắc 7 chữ : Trần Triều Hưng Đạo Vương chi ấn nghĩa là ấn của Hưng Đạo Vương triều Trần. Qua ấn này ta liên tưởng đến việc vua Trần ban cho Đại Vương quyền được thay vua phong tước cho các tướng; nhưng Đại Vương chưa từng phong tước cho ai, có chăng chỉ phong “giả lang tướng” - tướng không có thực quyền.

          - Ấn thứ hai: ấn hình vuông, kích thước 5,5cm x 5,5cm trên ấn khắc 4 chữ: Quốc Pháp Đại Vương.

          - Ấn thứ ba: ấn hình vuông, kích thước 4,3cm x 4,3cm trên ấn khắc 4 chữ: Vạn Dược Linh Phù.

          - Ấn thứ tư: ấn hình chữ nhật, kích thước 5,2cm x 7,8cm, khắc 6 chữ: Phi Thiên Thần Kiếm Linh Phù.

          Dân gian tin rằng muốn cầu thăng quan tiến chức thì xin ấn Trần triều Hưng Đạo Vương chi ấn, hoặc Quốc pháp Đại Vương. Cầu sinh con, tài lộc thì xin dấu ấn: Vạn Dược linh phù. Cầu trừ tà diệt quỷ, chữa bệnh, giặc dã thì xin dấu : Phi thiên thần kiếm linh phù.

          Theo Hán - Việt từ điển của Thiều Chửu, chữ phù có nghĩa:

          - Là điềm tốt lành.

          - Là cái bùa, các thầy cúng vẽ son mực vào giấy để trừ ma gọi là phù.

          Vì vậy, những ấn ở đền Kiếp Bạc thiên về nghĩa là điềm tốt lành và là bùa dùng để phù chú chữa bệnh trừ tà...

          Sau khi làm lễ ban ấn, nhân dân xin ấn về nhà treo và tin rằng treo ấn ở nhà sẽ gặp nhiều may mắn. Trong một thời gian dài, nghi lễ ban ấn không phổ biến vì người ta cho rằng nó mang nhiều yếu tố mê tín dị đoan. Theo ý kiến của giáo sư, tiến sĩ Đình Quang “…hành đạo có thể sai nhưng tín ngưỡng thì không thể ngăn cấm, xoá bỏ”. Vì vậy lần đầu tiên Sở Văn hoá Thông tin Hải Dương phối hợp với Viện Văn hoá Thông tin tổ chức lễ ban ấn một cách bài bản. Đêm 18 tháng 8 âm lịch năm 2006 lễ ban ấn được tổ chức. Hàng ngàn người ngủ lại Đền để sau 0giờ xin ấn Thánh. Qua đó ta thấy tín ngưỡng đối với anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương rất thiêng liêng.

          Trong hệ thống nhân thần được thờ tại Việt Nam, không có vị thần nào được nhiều nơi thờ như Đức Thánh Trần, nhưng nơi được coi là thiêng liêng nhất đó là đền Kiếp Bạc. Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng 8 (âm lịch) “tháng Tám giỗ cha” nhân dân ta ở mọi miền đất nước vẫn luôn hướng về đền Kiếp Bạc như hướng về nguồn cội của mình:

“Nghi ngút khói hương không dứt

Đền thiêng Vạn Kiếp trang nghiêm

Thiêng liêng thờ phụng tôn sùng

Sánh với thập phương Bồ Tát”

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Bích Sâm


Chú thích :

1. Khi đi hộ giá, Hưng Đạo Vương cầm chiếc gậy đầu có bịt sắt nhọn, mọi người đều sợ. Ông liền vứt bỏ đầu nhọn, chỉ cầm gậy không, mọi người đều yên lòng.

2,3. Đạo Mẫu ở Việt Nam - Ngô Đức Thịnh (chủ biên) - NXBVHTT - H.1996 - Tr 83,85.

4. Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú - NXBSH - H.1961 - Tr 250.

5. Bá Linh là tướng giặc Nguyên, có mẹ là người Việt, cha người Tầu. Vì phạm vào nhan sắc phụ nữ lên gọi là giặc Phạm Nhan.

6. Lịch triều hiến chương loại chí – Phan Huy Chú - NXBSH - H.1961 - Tr 250.

Thứ 2, Ngày 2/4/2012