TRẦN NHÂN TÔNG (1258 - 1308)

Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng Thái Hậu. Ngài tuy ở vị trí hoàng tộc mà tâm hâm mộ Thiền Tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái tử, vua cưới trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương cho Ngài. Sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc mà Ngài vẫn có tâm nguyện xuất gia tu hành. Ngài thông minh hiếu học, thông suốt các kinh sách. Tham học thiền, luôn bàn việc tâm tông với Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Trần Nhân Tông tên huý là Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng Thái Hậu. Ngài tuy ở vị trí hoàng tộc mà tâm hâm mộ Thiền Tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái tử, vua cưới trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương cho Ngài. Sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc mà Ngài vẫn có tâm nguyện xuất gia tu hành. Ngài thông minh hiếu học, thông suốt các kinh sách. Tham học thiền, luôn bàn việc tâm tông với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Năm 21 tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279) đặt niên hiệu là Trùng Hưng. Với đức độ và tài thao lược, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã cùng Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến đánh tan 2 cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông (1285 - 1288), bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và nền độc lập của đất nước.

Năm Quý Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng.          Tháng ba năm Ất Mùi, (Hưng Long thứ ba - 1295), đến Vũ Lâm (Yên Khánh, Ninh Bình), xuất gia tại hành cung, tu ở chùa Vũ Lâm. Tháng 6 năm ấy lại trở về kinh sư. Đến tháng 10 (Toàn thư chép tháng 8) năm Kỷ Hợi (Hưng Long thứ ba - 1299), Ngài đến tu ở núi Yên Tử, lấy pháp hiệu là Yên Vân Đại Đầu Đà, tự hiệu là Trúc Lâm Đại Sỹ. Ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng tăng. Trong sự nghiệp tu hành, Ngài đã đi khắp đất nước (sang cả Chămpa) hoằng dương phật pháp, đào tạo tăng ni, xây hàng ngàn chùa tháp, tiêu biểu là Côn Sơn, Sùng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm, Phổ Minh… Sống cuộc sống bình dị dân dã ở các làng quê, tuy sùng Phật đi tu vẫn không sao nhãng việc nước, quy tụ muôn dân gắn đạo với đời, thực hiện lý tưởng cao cả là thống nhất các tôn giáo trong quốc gia Đại Việt thành Tam Giáo đồng nguyên; mục đích và hoài bão lớn lao là lấy thần quyền phục vụ cho vương quyền. Qua đó củng cố nền thịnh trị của đất nước. Sách Tam tổ thực lục chép: "Điều Ngự đi khắp mọi thôn quê, khuyến dân phá bỏ các dâm tà và thực hành giáo lý thập thiện…”

          Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Thân (Hưng Long thứ 16 - 1308), Ngài sai Pháp Loa đến luyện siêu tại Báo Ân thiền tự, khai giảng trụ trì. Tháng tư năm ấy (1308), Ngài đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang, sai Pháp Loa khai giảng tăng đồ và trụ trì, Ngài giảng truyền Đăng Lục. Sau đó vào núi Yên Tử lên ở am Tử Tiêu. Đến ngày mồng 1 (Toàn thư chép ngày mồng 3) tháng 11, tại am Ngoạ Vân, Ngài nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch, hưởng thọ 51 tuổi.

          Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hoả táng, lượm ngọc cốt có 5 màu, gồm hơn ba ngàn viên xá lỵ để vào bình, mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư; linh cữu thì quàn ở điện Diên Hiền. Ngày 16 tháng 9 Canh Tuất (Hưng Long thứ 18 - 1310), vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước linh cữu chôn ở lăng Quy Đức (phủ Long Hưng) và xây Bảo tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là : Huệ Quang kim tháp và dâng tôn hiệu là : Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Định Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

          Theo "Tam tổ thực lục", Nhân Tông đã soạn những tác phẩm: "Thiền lâm thiết chử y ngữ lục", "Trúc lâm hậu lục", "Thạch thất mị ngữ", "Đại Hương hải ấn thi tập", "Tăng già toái sự". Rất tiếc những cuốn sách này đến nay thất truyền, chỉ còn lại một số bài thơ trong cuốn "Việt Âm thi tập" của Phan Phu Tiên và "Toàn Việt thi lục" của Lê Quý Đôn..

          Suốt cả cuộc đời, Ngài đã dồn tâm huyết để xây dựng một thiền phái Trúc Lâm nhập thế, phục vụ cho đất nước và dân tộc. Ngài là đức vua nặng lòng yêu nước thương dân, là đức Phật tổ của Thiền phái Trúc Lâm, là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, tiêu biểu trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc, là tấm gương sáng cho hậu thế, đặc biệt là các bậc quân vương ở các triều đại sau học tập.

 

Thứ 2, Ngày 2/4/2012